Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Ngày 22/11/2019 09:39 PM
Ấn phẩm sách
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 10/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 9/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 8/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 7/2019
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?















Chọn    Xem KQ
Tìm hiểu tín ngưỡng dân gian trong đời sống cộng đồng cư dân Khánh Hòa

Khánh Hòa là vùng đất được hình thành gắn liền với công cuộc khai hoang lập ấp của người Việt theo đoàn quân Nam tiến vào vùng đất Nam Bộ. Nguồn gốc hình thành cư dân Khánh Hòa là những tầng lớp cư dân Đàng Ngoài, vốn là nông dân bị khánh kiệt về ruộng đất, những người bị lưu đày, bị chính quyền phong kiến truy bức, những tù binh chiến tranh, những thương gia bị phá sản và những lưu dân người Hoa… về đây đứng chân, định cư.

                Là một cộng đồng cư dân có nhiều dân tộc sinh sống bằng nhiều loại hình kinh tế khác nhau nên đời sống tâm linh, tôn giáo của cư dân Khánh Hòa cũng rất phong phú và đa dạng. Ngoài sự tồn tại của các tôn giáo lớn, phần lớn nhân dân còn duy trì các tín ngưỡng dân gian, lễ nghi dân tộc. Tôn giáo, tín ngưỡng có một vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của nhân dân nơi đây, nó ảnh hưởng và chi phối tập quán, cũng như lối sống của từng thành phần dân cư.

Trên vùng đất mới của buổi đầu lập ấp “Dưới sông cá lội, trên giồng cọp um”, bởi rừng thiêng nước độc “con chim kêu phải sợ, con cá vùng phải kinh”, người nông dân lúc nào cũng nơm nớp lo sợ “Chèo ghe sợ sấu cắn chưn; Xuống sông sợ đỉa, lên rừng sợ ma”. Những ngày đầu khai phá thiếu cả công cụ, phương tiện lao động vì thế tôn giáo, tín ngưỡng như một nhu cầu lớn lao, là chỗ dựa về mặt tinh thần không thể thiếu để chống chọi lại bao tai ách, biến động của tự nhiên và xã hội. Con người luôn quan niệm rằng “có thờ có thiêng, có kiêng có lành” vì vậy về mặt tâm linh có một ý nghĩa đặc biệt cho sự tồn tại và mở mang vùng đất mới. Để đáp ứng nhu cầu đó “không chỉ tin đến những tín ngưỡng tôn giáo vốn có mà họ còn tìm cách tự tạo cho mình những dạng thức tôn giáo mới[1], từ đó hình thành nên những dạng thức tín ngưỡng dân gian với những nét riêng biệt.
Do quá trình tụ cư khác nhau, với nhiều thành phần dân tộc (Kinh, Hoa, Chăm, Raglay, Gié T’riêng…) từ nhiều nguồn gốc khác nhau nên cư dân ở Khánh Hòa bên cạnh hệ thống tín ngưỡng truyền thống mang từ quê cũ vào thì họ cũng đã tự tạo cho mình một đời sống tâm linh mới hỗn dung giữa màu sắc bản địa và màu sắc ngoại lai “Văn hóa của cư dân vùng đất mới, dù là của dân tộc nào, cũng đều là sự kết hợp giữa truyền thống văn hóa trong tiềm thức, trong dòng máu và điều kiện tự nhiên, lịch sử của vùng đất mới. Nó phát triển trong điều kiện cách xa vùng đất cội nguồn cả về không gian và thời gian[2].
Đối với người dân Khánh Hòa, tín ngưỡng dân gian lúc nào cũng như hình với bóng, ngự trị trong cuộc sống, từ lúc sinh ra cho đến khi từ giã cõi đời. Hiện nay, có nhiều loại hình tín ngưỡng khác nhau ở Khánh Hòa, tuy nhiên qua quá trình tiếp biến và hội nhập của các dân tộc đã tạo nên những giá trị văn hóa đồng nhất nhưng chính trong sự đồng nhất đó đã khẳng định đặc tính tâm linh riêng của mỗi dân tộc, mỗi nền văn hóa. Có thể thấy nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng dân gian ở Khánh Hòa gồm các loại hình sau:
1. Tín ngưỡng thờ cúng tại gia đình
- Thờ cúng tổ tiên. Đây là truyền thống lâu đời, một nét đẹp văn hóa trong đời sống tâm linh của người phương Đông. Từ lâu, họ cho rằng người chết thể xác sẽ hóa thân vào vũ trụ nhưng linh hồn vẫn tồn tại nhớ về nơi ở cũ, vì vậy bổn phận con cháu phải luôn phụng sự, tưởng nhớ linh hồn, để ông bà phù trợ cho con cháu cuộc sống yên ổn, khỏe mạnh, làm ăn phát đạt.
Tu đâu cho bằng tu nhà
Thờ cha kính mẹ mới là chân tu”
Thờ cúng tổ tiên, ông bà được xem là đạo lý làm người quan trọng đến mức có người cho là “đạo” (tôn giáo). Hiện nay ở Khánh Hòa, những gia đình theo đạo Phật hay không theo đạo thường đặt bàn thờ tổ tiên ở chính giữa, nơi trang trọng nhất của ngôi nhà. Tùy vào hoàn cảnh của mỗi gia đình, bàn thờ tổ tiên được bài trí khác nhau, thường là một bệ xi măng đúc, hoặc tủ gỗ, trên bàn thờ có chân dung người đã khuất, bát nhang, bình hoa, đèn, gia đình khá giả thì có thêm lư đồng. Ngày nay, việc thờ cúng ông bà, tổ tiên được phục hồi và phát triển mạnh, nhất là đối với những người càng lớn tuổi. Người trẻ hiện nay trọng ngày giỗ ông bà, xem như thước đo của lòng hiếu thảo, đoàn tụ, giữ gìn dòng họ. Ai cũng có thể đứng ra tổ chức cúng giỗ cho ông bà, không phân biệt trai hay gái, không nhất thiết chỉ có con trai trưởng. Có những gia đình, con trai không chỉ thờ cúng cha, mẹ đẻ mà còn thờ cúng cả cha, mẹ vợ. Bên cạnh bàn thờ tổ tiên, tùy thuộc vào đối tượng theo tôn giáo nào thì có bàn thờ tôn giáo riêng[3].
- Thờ các vị thần bảo gia được phối tự thờ cúng ở gia đình và cộng đồng. Đối với người Việt, thờ ông bà ở gia đình là việc chính, được đặt ở giữa nhà, giữa trang thờ, nói lên ước vọng chính của gia đình. Các thần phụ như thần Quan Công, Thiên Hậu, Cửu Thiên Huyền Nữ, Quan Âm, Linh Sơn Thánh Mẫu, thần Đất… sẽ bổ sung thêm những ước vọng khác của gia chủ. Thần Trời, thần Mặt Trăng, thần các Vì Sao, ông thần Sấm bà thần Sét, ông thần Bão bà thần Gió Lốc, thần Rẫy, thần Bắp Lúa, thần Tổ sinh Chăn nuôi… là những vị thần gia bảo trong tín ngưỡng của người Raglay và một số dân tộc thiểu số khác ở Khánh Hòa. Các thần bảo gia thường che chở cho gia chủ tránh khỏi sự phá rối của ma quỷ, ác thần, các rủi ro “có kiêng có lành, có cầu có ứng” và cầu điều tốt lành cho gia đình.
- Thờ cúng tổ nghề nghiệp là một truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam, thể hiện sự biết ơn những vị sáng lập, mở mang tri thức ngành nghề cho người dân, thể hiện tinh thần “tôn sư trọng đạo” đối với vị khai Sư. Tổ nghề còn gọi là Tổ sư, Thánh sư, Nghệ sư, là người phát minh, sáng lập, gây dựng nên một nghề (thường là nghề thủ công mỹ nghệ) hoặc là người thứ nhất đem nghề từ nơi khác truyền lại cho dân chúng trong một làng hay một miền nào đó, được đời sau tôn thờ như bậc thánh. Các vị thần tổ nghiệp thường được nhân dân thờ cúng có nguồn gốc từ Trung Quốc như Bà Nữ Oa (Cửu Thiên Huyền Nữ), thần Lỗ Bang, Thái thượng Lão quân…; các vị tổ nghiệp Việt Nam như Nguyễn Diệu – tổ nghề dệt (người Thanh Hóa), Lê Công Hành – tổ nghề thêu (tên thật Trần Quốc Khái, người Hà Tây), Nguyễn Minh Không (Dương Không Lộ, người Thanh Hóa) – tổ nghề đúc đồng, tổ nghề gốm xứ là Hứa Vĩnh Kiều, Đào Trí Tiến, Lưu Phong Phú, Lê Hữu Trác, người Hưng Yên – tổ sư ngành y học dân tộc Việt Nam… Ngoài ra, ở Việt Nam còn có những tổ sư ngành nghề ở các địa phương khác nhau vẫn được người dân thờ phụng một cách tôn kính.
Hàng năm có một ngày giỗ tổ sư là tổ nghề nghiệp. Người cùng nghề thường tập trung ở đền thờ chung hay ở cơ sở sản xuất, gia đình… bày bàn làm giỗ. Việc thờ cúng mang ý nghĩa nhớ ơn người khai sáng ra nghề nghiệp, đồng thời cầu xin tổ nghiệp phù hộ tay nghề ngày càng dày dặn, đông khách hàng.
- Thờ các danh nhân, anh hùng lịch sử, liệt sỹ cách mạng là một nét đẹp văn hóa dân tộc, vừa là đạo lý truyền thống của người phương Đông “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ người trồng cây”, nhớ công ơn của những người đã chiến đấu, hy sinh trong công cuộc đấu tranh bảo vệ và xây dựng quê hương, đất nước qua các thời kỳ lịch sử, như: Hùng Vương, Hai Bà Trưng, Đức Thánh Trần Hưng Đạo.... Gần đây, việc thờ cúng Bác Hồ khá phổ biến nhiều nơi ở cơ sở thờ tự của các tôn giáo và riêng từng gia đình.
Bên cạnh đó, người dân Khánh Hòa còn nhiều bàn thờ khác trong gia đình như ông Địa, thần Tài, ông Táo, bàn Thiên (tín ngưỡng thờ trời đất). Hình ảnh ông Địa và ông thần Tài thường gắn liền với nhau, cả hai đều được thờ chung tại một trang thờ. Việc thờ cúng ông Địa và thần Tài của người dân đều mang một ý nghĩa chung là sự cầu xin phước lộc, mua bán thuận lợi của những người kinh doanh. Vì vậy, bàn thờ hai vị thần này thường phổ biến trong các gia đình làm kinh tế, kinh doanh, sản xuất hơn là trong những gia đình, những nơi nhân dân chuyên sản xuất nông nghiệp.
2. Tín ngưỡng thờ cúng tại đền, miếu, đình làng
Làng xã ở Khánh Hòa không mang tính khép kín như ở Bắc bộ với lũy tre xanh, cây đa, bến nước, sân đình (trong làng, ngoài đình), mà khung cảnh sống là “tiền viên hậu điền”, phía trước là vườn, phía sau là ruộng. Làng của người Nam bộ nói chung, Khánh Hòa nói riêng theo hướng mở, nhân dân cư trú theo tuyến, dọc theo hai bên bờ kênh rạch, trục lộ giao thông do đó không mang tính chất gắn kết mật thiết như các làng ở Bắc bộ. Từ những đặc điểm này mà có thể thấy đình làng ở đây cũng rất ít, không nhất thiết làng nào cũng có miếu thờ hay đình làng. Tùy thuộc vào tình cảm của nhân dân mà đình làng, đền miếu được xây dựng để thờ cúng, tưởng nhớ những người có công trong việc khai hoang lập ấp trong những ngày đầu mở cõi.
Theo bước chân của đoàn quân Nam tiến, những lưu dân người Việt đến vùng đất Khánh Hòa sớm nhất phải từ những năm nửa cuối thế kỉ XVII, tức sau năm 1653 khi chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần cùng Cai cơ Hùng Lộc hầu lập ra hai phủ Thái Khang và Diên Ninh. Khi cư dân Việt đến vùng đất mới này thì người Chămpa bản địa nơi đây đã có tín ngưỡng và có tôn giáo của riêng mình: Bàlamôn giáo mà biến thái của nó là đạo Chăm Bàni thờ ba vị thần Brahma, Visnu, Siva[4]. Cùng với quá trình khai hoang lập làng, quy dân lập ấp, những thiết chế văn hóa truyền thống của người Việt như đình, chùa cũng được xây dựng trên vùng đất mới. Trải qua hơn 350 năm với nhiều đổi thay, biến động, hiện nay Khánh Hòa còn khoảng trên 200 ngôi đình phân bố khắp nơi trong tỉnh. Những ngôi đình, miếu có thời gian xây dựng khác nhau, gắn liền với quá trình khai khẩn, mở mang bờ cõi và phát triển của cư dân người Việt khi đến vùng đất mới sinh sống. Quy mô và vật liệu xây dựng của các ngôi đình, miếu cũng khác nhau, nhưng hầu hết đều được xây dựng đơn giản, chủ yếu là chất liệu có sẵn trong vùng, được nhân dân đóng góp xây dựng.
Hầu hết các đình ở Khánh Hòa đều có miếu thờ ông Hổ để mong được phù trợ và yên thân làm ăn. Việc thờ thần Tổ nghề, Thánh sư, Tiên sư của một ngành nghề nào đó như: nghề mộc, nghề xây, nghề rèn, nghề làm muối, nghề chài lưới... cũng rất phổ biến ở các đình miếu. Được mọi người thành tâm vọng bái, nhắc nhở nhau không được quên nghề Tổ, nghĩa Tổ, các anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa được nhân dân tôn kính như: Hùng Vương, Hai Bà Trưng, Đức Thánh Trần Hưng Đạo... Hàng năm vào mùa Xuân hay mùa Thu, lễ cúng đình ở Khánh Hòa cũng là ngày hội hè của các làng, xã với nghi thức cúng tế, rước lễ để tỏ rõ sự mong ước “quốc thái dân an – mưa thuận gió hòa – dân cư an lạc”, mong Thành hoàng che chở cho dân làng khỏe mạnh, bình an, kinh tế phát triển, đất nước phồn vinh.
- Thờ Thành hoàng Nông nghiệp là tục thờ cúng của cư dân nông nghiệp ở Khánh Hòa. Thành hoàng có thể là nhiên thần hoặc nhân thần. Nhiên thần như thần Cao Các. Thần có nguồn gốc từ Thanh Hóa. Dưới thờ vua Trần Thánh Tông (1240 - 1290), thần Cao Các linh ứng giúp vua đánh tan giặc Nguyên tại sông Lục Đầu, được vua phong tặng "Đương cảnh Thành hoàng Hiển ứng Anh hộ Quốc huy Cao Các, Đại minh Linh ứng Thượng đẳng Phúc thần Đại vương". Triều Trần ban sắc cho các nơi dựng miếu phụng thờ thần Cao Các ở các bến sông, cửa bể. Thánh Mẫu Thiên Y A Na là thần Mẹ thiêng liêng của các vị thần dân tộc Chăm. Dưới triều nhà Nguyễn, Bà được phong là “Hồng huệ Phổ tế Linh cảm Diệu thông thượng đẳng thần”. Thần Nông, có công dạy dân cày ruộng, trồng lúa, làm nhà mái bằng để tránh mưa nắng; Nhân thần là những người có công khai hoang, lập ấp, lập làng, hoặc một vị quan có công lao to lớn trong việc trông coi, xây dựng và phát triển một thôn, hoặc một xã "Tiền Hiền khai khẩn, Hậu Hiền khai cơ"; khi mất, dân lập đền thờ trong đình làng để thờ và gọi là Thành hoàng. Đối với nhân dân, thần Thành hoàng là vị thần bảo hộ chung cho cả làng “Thành hoàng Bổn cảnh”. Thần ngự trị tại đình làng phù hộ cho dân được mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, xóm làng thịnh vượng. Người ăn ở hiền lương được thần độ trì, kẻ gian ác hung dữ sẽ bị trừng trị. Xét về mặt này thì thần Thành hoàng mang giá trị nhân văn, là vị thần hiện thân của kỷ cương, thưởng phạt phân minh.
- Thờ Thành hoàng Ngư nghiệp. Từ bao đời nay, ngư dân vùng biển Khánh Hòa có tục thờ ông Nam Hải - hiện thân của loài cá Voi có thân hình to lớn nhưng tính tình hiền hòa, thường cứu giúp ngư dân mỗi khi bị nạn. Sau khi lên ngôi, vua Gia Long đã phong Cá Voi tước hiệu "Nam Hải Cự Tộc Ngọc Lân Thượng đẳng Thần". Các vua triều Nguyễn sau đó phong sắc cho cá voi với danh hiệu "Đại càng Quốc gia Nam Hải".
Càng tin vào sự giúp đỡ của Cá Voi, ngư dân tổ chức việc thờ cúng hết sức thành kính. Họ kiêng gọi Cá Voi mà gọi là Cá Ông hoặc Ông Nam Hải. Lăng thờ cúng gọi là lăng Ông. Kiến trúc của lăng Ông cơ bản mang dáng dấp một ngôi đình, vừa mang chức năng tín ngưỡng vừa mang chức năng thế tục. Lăng thường được xây gần sông, biển và quay mặt ra hướng Đông. Hàng năm vào mùa Xuân hoặc mùa Thu, ngư dân Khánh Hòa tiến hành nghi thức cúng ông Nam Hải – còn gọi là Lễ hội Cầu ngư, cầu thần Biển phù hộ độ trì cho sóng yên biển lặng và cho một vụ đánh bắt cá mới đầy bội thu. Họ tin rằng, lễ tế càng chu đáo bao nhiêu thì ân đức của ngài ban cho ngư dân (được mùa tôm cá, đời sống sung túc) càng nhiều bấy nhiêu.
Hiện nay, ở Khánh Hòa có 50 lăng Ông dọc theo các huyện, thị ven biển: Vạn Ninh (13 lăng), Ninh Hòa (15 lăng), thành phố Nha Trang (11 lăng), thị xã Cam Ranh (11 lăng), trong đó có 12 lăng phân bố trên các đảo. Mỗi xã, phường ven biển trong tỉnh thường có một lăng, có nơi có đến 2 – 4 lăng (nhiều thôn trong một xã), đặc biệt phường Vĩnh Nguyên có đến 6 lăng. Lăng Ông Thủy Tú hiện đang giữ bộ xương cá voi lớn nhất Đông Nam Á. Lăng Ông Cù Lao (phường Vĩnh Thọ) nằm trong cụm cơ sở tín ngưỡng dân gian gồm đình làng – ngôi tiền hiền – chùa làng – lăng Ông[5].
- Thờ cúng các nữ thần. Đây là tín ngưỡng Mẫu hệ có từ xa xưa. Có thần được mang theo từ phương Bắc như Liễu Hạnh, Chúa Kho… Người Việt còn tiếp thu thần của các cư dân Khmer, Chăm, Hoa… làm cho việc thờ cúng phổ biến và phong phú hơn: Bà chúa Xứ, Thánh Mẫu Thiên Y A Na, Thiên Hậu, Thất Tinh nương nương, 12 bà Mụ, Ngũ Hành… Nam cũng như nữ giới thường hâm mộ những thần phù hợp với tuổi sinh của mình, ước vọng của mình.
­- Thờ cúng cô hồn khá sớm và phổ biến, biểu thị lòng thương xót của người dân đối với những người chết trong cô quạnh, tha phương, chết bất đắc kỳ tử. Người ta tin rằng cô hồn thường phá khách, quấy phá nên phải thờ cúng. Gần đây, tình trạng tai nạn giao thông có chiều hướng gia tăng, người chết thường nhiều, nơi thường hay xảy ra chết người như ở ngã ba, ngã tư, những đoạn đèo, khúc cua quẹo… Tuy là trang thờ nhỏ bên đường nhưng người dân trong ven đường, khách bộ hành, các lái xe, hành khách có dịp qua thường nhang khói cúng vái, cầu an toàn.
***
Tín ngưỡng dân gian là một trong những thành phần tạo nên bản sắc văn hóa của các dân tộc ở Khánh Hòa. Những lễ nghi, phong tục, tâm linh, tín ngưỡng ảnh hưởng mật thiết đến đời sống hàng ngày của cộng đồng cư dân, nó phản ánh “niềm tin của con người vào một hiện tượng, sự vật ấy có tác động trở lại đối với cuộc sống của mỗi người và cộng đồng[6]. Bằng lòng tin tín ngưỡng, con người luôn hướng đến cái thiện, thể hiện lòng biết ơn, tôn kính của con cháu đối với ông bà tổ tiên, vị thành hoàng, tổ nghiệp, đồng thời đề cao chủ nghĩa nhân đạo làm phong phú thêm đời sống tinh thần của mình. Tín ngưỡng dân gian đã góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc, là thành tố kết dính với truyền thống văn hóa của cộng đồng cư dân lại với nhau, góp phần làm cho nền văn hóa dân tộc thêm phong phú, đa dạng.
 Ths Nguyễn Duy Trường
Ban Tôn giáo tỉnh Khánh Hòa


[1] PGS.TS Phan An, Vài suy nghĩ về tôn giáo Nam Bộ. Trong: Nam Bộ đất và người (tập 4), Nxb. Trẻ, TPHCM, 2006, trang 135.
[2] Trần Quốc Vượng, Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1999, trang 271.
[3] Theo thống kê năm 2008, số lượng tín đồ theo 5 tôn giáo lớn ở Khánh Hòa là: Phật giáo 205.235 người, Phật giáo Hòa Hảo: 258 người, Cao Đài: trên 7.000 người, Công giáo: 114.566 người, Tin lành: 14.421 người.
[4] Địa chí Khánh Hòa, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003, trang 379, 380.
[6] Lê Như Hoa, Tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2001, trang 323.
Tìm hiểu tín ngưỡng dân gian trong đời sống cộng đồng cư dân Khánh HòaLà một cộng đồng cư dân có nhiều dân tộc sinh sống bằng nhiều loại hình kinh tế khác nhau nên đời sống tâm linh, tôn giáo của cư dân Khánh Hòa cũng rất phong phú và đa dạng. Ngoài sự tồn tại của các tôn giáo lớn, phần lớn nhân dân còn duy trì các tín ngưỡng
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
Chỉ thị 1940/CT-TTg, ngày 31/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ về nhà, đất liên quan đến tôn giáo đã thực sự đi vào cuộc sống
Những bước tiến trong công tác giáo dục-đào tạo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Thực hiện chính sách tôn giáo theo tinh thần nghị quyết Đại hội XI của Đảng
Giới thiệu vài nét về đạo phục đạo Cao đài
Khái quát quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về tôn giáo ở Việt Nam giai đoạn 1945-1954
An lạc Phật giáo hòa trong vinh quang của Đảng
Phong tục thờ cúng tổ tiên của người tín đồ Cao đài
Tổng Giám mục Phao lô Nguyễn Văn Bình nhân vật của những thời điểm lịch sử
Về việc đăng ký hoạt động và công nhận tổ chức tôn giáo
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong các văn bản pháp luật quốc tế và sự tương thích của pháp luật Việt Nam
Video
Phát huy vai trò của các tôn giáo trong việc bảo vệ môi trường ở Việt Nam
Toàn văn bài phát biểu của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc tôn giáo có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Hình ảnh
Hình ảnh khai mạc Đại hội Giới trẻ Giáo tỉnh Hà Nội lần thứ XVII
Hàng chục ngàn người tham dự Lễ hội dừa Bến Tre 2019
Tái hiện Nghi lễ “Lẩu Then” của đồng bào dân tộc Tày
Audio
Ông Bùi Thanh Hà, Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ trao đổi về vấn đề dâng sao giải hạn đang diễn ra tại một số chùa
Phỏng vấn Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Cần Thơ về công tác tuyên truyền, phổ biến Luật tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định 162/2017/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo tại địa phương


BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Đường Dương Đình Nghệ, P. Yên Hòa,Q. Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 0243 8 248 673 . Fax: 08041313
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn

Đơn vị quản lý: Trung tâm Thông tin,
Ban Tôn giáo Chính phủ

Email:ttttbantongiao@chinhphu.vn