Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Ngày 17/10/2019 12:36 PM
Ấn phẩm sách
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 9/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 8/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 7/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 6/2019
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?















Chọn    Xem KQ
Giới thiệu vài nét về đạo phục đạo Cao đài

  Luật lệ của đạo Cao đài được thực hiện theo Pháp Chánh truyền - Tân luật. Pháp Chánh truyền do chính Đức Chí Tôn ban hành. Tân luật do các Đấng tiền khai dự thảo và ơn trên qua cơ bút hoàn chỉnh và phê chuẩn, nên theo nguyên tắc “Nhơn Thiên Hiệp Nhất”.

      Pháp Chánh truyền Cửu Trùng đài được Đức Chí Tôn ban trong đêm Rằm rạng 16 tháng 10 năm Bính Dần (thứ bảy 20.11.1926) (đêm đầu tiên của Lễ Khai Minh Đại đạo).

      Pháp Chánh truyền Hiệp Thiên đài được Đức chí Tôn ban ngày 12 tháng Giêng năm Đinh Mão (13.2.1927).

      Pháp Chánh truyền quy định cơ cấu hành đạo và thiết lập hàng giáo phẩm của Cửu Trùng đài và Hiệp Thiên đài.

      Chức sắc Cửu Trùng đài: Giáo tông, Chưởng pháp, Đầu sư, Phối sư, Giáo sư, Giáo hữu, Lễ sanh (là chuẩn bị lên chức sắc).

      Đạo phục được Đức Chí Tôn dạy qua nhiều đàn và sau này các Đấng Tiền Bối Khai đạo tổng hợp lại trong phần chú giải Pháp Chánh Truyền;

      Sau đây xin giới thiệu về đạo phục đạo Cao đài:

I. Đạo phục chức sắc Cửu Trùng đài Nam phái

1. Đạo phục Giáo Tông: có hai bộ Đại phục và Tiểu phục.

- Bộ Đại phục toàn bằng hàng trắng, có thêu bông sen vàng từ trên tới dưới, hai bên cổ áo, mỗi phía có ba Cổ pháp là: Long Tu Phiến, Thư Hùng Kiếm và Phất Chủ (Cổ pháp của Thượng Phẩm và Thượng Sanh trị thế). Đầu đội mũ vàng năm tầng hình Bát Quái (thế Ngũ Chi Đại đạo)[1] ráp tròn lại bít chính giữa; trên chót mũ có chữ Vạn, giữa chữ Vạn có Thiên nhãn, bao quanh một vòng Minh Khí; nơi ngạch Mũ phải chạm ba cổ pháp cho rõ ràng y như hai bên cổ áo đã nói trên, tay cầm cây gậy 90 cm, trên đầu gậy có chữ Vạn bằng vàng, nơi giữa chữ Vạn có Thiên nhãn, bao quanh một vòng Minh Khí.

 

 

Đức Quyền Giáo tông (1, 2, 3, 4)

- Bộ Tiểu phục màu trắng, có thêu chữ Bát Quái bằng vàng, cung Khảm ngay Hạ Đơn Điền, cung Cấn bên tay phải, cung Chấn bên tay trái, cung Đoài bên vai phải, cung Tốn bên vai trái, cung Ly ngay trái tim, cung Khôn ngay giữa lưng. Đầu đội mũ Hiệp Chưởng màu trắng, bề cao ba tấc, ba phân, ba ly, (0m333) may giáp mối lại cho có trước một ngạch, sau một ngạch hiệp lại có một đường xếp (âm dương tương hiệp), cột dây xếp hai lại, bên tay trái có để hai dải thòng xuống, một mí dài một mí vắn (mí dài bề ngang 0m03, bề dài 0m30) trên mũ ngay trước trán có thêu chữ cung Càn, chân đi giày vô ưu màu trắng, trước mũi có chữ Tịch đạo nam nữ.

2. Đạo phục Chưởng Pháp:

a. Đạo Phục của Thái Chưởng Pháp: có hai bộ Đại Phục và Tiểu Phục.

- Bộ Đại Phục màu vàng (màu Đạo) có thêu chữ Bát Quái giống như Tiểu Phục Giáo Tông, ngoài thì choàng Bá Nạp Quang màu đỏ, tức gọi là Khậu, đầu đội mũ Hiệp Chưởng Hoà Thượng tay cầm bình Bát Vu, chân đi giày vô ưu màu vàng như màu với áo, trước mũi có chữ “Thích”.

- Bộ Tiểu Phục màu vàng như áo Đại Phục ngoài không đắp khậu, không đội mũ mà bịt khăn màu vàng chín lớp chữ Nhất.

b. Đạo Phục Thượng Chưởng Pháp: có hai bộ Đại Phục và Tiểu Phục.

- Bộ Đại Phục màu trắng nơi trước ngực và sau lưng có thêu Thiên Nhãn bao quanh một vòng Minh Khí, đầu đội mũ Hiệp Chưởng màu trắng như kiểu mũ Tiểu Phục của Giáo Tông, tay cầm Phất Chủ, chân đi giày vô ưu màu trắng, trước mũi có chữ “Đạo”.

- Bộ Tiểu Phục màu trắng như áo Đại Phục, đầu không đội mũ mà bịt khăn màu trắng chín lớp chữ Nhất.

c. Đạo Phục của Ngọc Chưởng Pháp: có hai bộ Đại Phục và Tiểu Phục.

- Bộ Đại Phục màu hồng (màu đạo) nơi trước ngực và sau lưng có thêu Thiên Nhãn bao quanh một vòng Minh Khí. Đầu đội mũ Văn Đằng màu hồng, trên mũ ngay trước trán có Thiên Nhãn, bao quanh một vòng Minh Khí và trên có sao Bắc Đẩu Tinh Quân. Tay cầm bộ Xuân Thu, chân đi giày vô ưu màu hồng trước mũi có chữ “Nho”.

                                            

                                             Ngọc Chưởng Pháp (5)

- Bộ Tiểu Phục màu hồng như áo Đại Phục, đầu không đội mũ mà bịt khăn màu hồng, chín lớp chữ Nhất.

3. Đạo phục Đầu Sư:

a. Đạo phục của Thái Đầu sư: có hai bộ Đại Phục và Tiểu Phục.

- Bộ Đại Phục màu vàng (màu đạo) nơi trước ngực và sau lưng có thêu sáu chữ Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ bao quanh ba vòng vô vi, ngay giữa có một chữ Thái, áo có chín dải, ngoài choàng Bá Nạp Quang màu đỏ giống như của Thái Chưởng Pháp. Đầu đội Bát Quái Mạo màu vàng, có thêu đủ tám cung chung quanh, chân đi giày vô ưu màu đen, trước mũi có chữ “Thái”.

- Bộ Tiểu Phục màu vàng như áo Đại Phục. Đầu không đội mũ mà bịt khăn màu vàng chín lớp chữ Nhất.

b. Đạo phục của Thượng Đầu sư: có hai bộ Đại Phục và Tiểu Phục.

- Bộ Đại Phục màu xanh da trời, trước ngực và sau lưng có thêu sáu chữ Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ bao quanh ba vòng vô vi giống như của Thái Đầu Sư, ngay giữa có để chữ Thượng, áo chín dải, đầu đội Bát Quái Mạo như của Thái Đầu Sư mà màu xanh da trời, chân đi giày vô ưu màu đen, trước mũi có chữ “Thượng”.

- Bộ Tiểu Phục màu xanh da trời như Đại Phục, đầu không đội mũ mà bịt khăn màu xanh da trời chín lớp chữ Nhất.

 

 

Đầu sư Thượng Tám Thanh (6)

c. Đạo phục của Ngọc Đầu sư: có hai bộ Đại Phục và Tiểu Phục.

- Bộ Đại Phục màu hồng (màu Đạo), trước ngực và sau lưng có thêu sáu chữ Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ bao quanh ba vòng vô vi như của Thái Đầu Sư và Thượng Đầu Sư, song ngay giữa có để chữ Ngọc, áo chín dải, đầu đội Bát Quái Mạo giống như của Thượng Đầu Sư nhưng màu hồng, chân đi giày vô ưu màu đen, trước mũi có chữ Ngọc.

- Bộ Tiểu Phục màu hồng giống như áo Đại Phục, đầu không đội mũ mà bịt khăn màu hồng chín lớp chữ Nhất.

4. Đạo phục Chánh Phối Sư và Phối Sư: Đạo phục cũng có hai bộ phân biệt nhau (Đại Phục và Tiểu Phục) như của vị Đầu Sư, song trước ngực và sau lưng có thêu Thiên Nhãn bao quanh một vòng vô vi.

- Chánh Phối Sư thì áo chín dải, còn Phối Sư ba dải. Chánh Phối Sư phái Thái thì choàng ngoài Đại Bá Nạp Quang màu đỏ, còn Phối Sư phái Thái thì Tiểu Bá Nạp Quang. Đầu đội Bát Quái Mạo như của ba vị Đầu Sư song tuỳ theo từng phái, chân đi giày vô ưu màu đen, trước mũi không có chữ.

- Tiểu Phục cũng giống như Đại Phục, đầu không đội mũ mà bịt khăn tuỳ theo sắc phái, chín lớp chữ Nhất.

 

                             

Phối sư phái Thái-Thượng-Ngọc (7, 8, 9)

5. Đạo phục Giáo Sư: có hai bộ Đại Phục và Tiểu Phục.

- Bộ Đại Phục màu tuỳ theo từng phái, trước ngực và sau lưng có thêu Thiên Nhãn, bao quanh một vòng vô vi, áo ba dải, đầu đội Thiên Nguơn Mạo Bát Quái tuỳ theo từng phái, có thêu chữ Bát Quái chung quanh, trên đỉnh mũ có Minh châu lý, Giáo Sư không được đi giày.

- Tiểu Phục cũng như Đại Phục, Đầu không đội mũ mà bịt khăn tuỳ theo từng phái, bảy lớp chữ Nhân.

 (Riêng chỉ có Giáo Sư phái Thái phải choàng ngoài một Tiểu Bá Nạp Quang gọi là “Khậu”, đầu đội mũ Hiệp Chưởng của nhà Thiền, hai bên có thêu Thiên Nhãn).

 

 

Giáo sư phái Ngọc (10)

6. Đạo phục Giáo Hữu: Đạo phục chỉ có một bộ màu sắc tuỳ theo từng phái không có thêu gỡ, áo có ba dải. Đầu đội Ngưỡng Thiên Mạo tuỳ theo sắc phái. Cái mũ có bề cao đủ phân tấc là 0m150, ngay trước trán có thêu Thiên Nhãn, bao quanh ba vòng vô vi, Giáo Hữu không được bịt khăn.

 

Chức sắc Giáo Hữu (11)

7. Đạo phục Lễ Sanh: Đạo phục giống như của Giáo Hữu màu sắc tuỳ theo từng phái, đầu đội Khôi Khoa Mạo màu trắng ở cả ba phái. Ngay trước trán có thêu Thiên Nhãn, bao quanh một vòng Minh Khí, Lễ Sanh không được phép đi giày.

8. Đạo phục Chánh Trị sự: Đạo phục giống như của Lễ Sanh, song toàn bằng vải trắng, nịt ngang lưng một sợi dây bằng vải trắng cho thật cứng như dây nịt; bề ngang 0m05, áo Đạo cổ trịt viền chỉ kim tuyến vàng, nơi tay trái có ba sắc Đạo bề ngang 0m06, bề dài 0m10, đầu bịt khăn đen bảy lớp chữ Nhân, nơi khăn đen ngay giữa trán có thêu ba Cổ Pháp, giống như trên mũ Tiểu Phục của Hộ Pháp.

9. Đạo phục Phó Trị sự: Phó Trị sự mặc Đạo phục như Chánh Trị sự song cổ trịt viền chỉ kim tuyến trắng; không được phép nịt ngang lưng sợi dây như Chánh Trị sự, áo có một dải, nơi tay trái cũng có ba sắc Đạo bề ngang 0m03, bề dài 0m05. Đầu bịt khăn đen bảy lớp chữ Nhân.

10. Đạo phục Thông sự: Thông sự mặc Đạo phục bằng vải trắng không có viền chỉ kim tuyến, hai bên cổ áo có thêu ba Cổ Pháp của Đạo, y như của Hộ Pháp, nịt ngang lưng một sợi dây cũng bằng vải trắng cho thật cứng như dây nịt, bề ngang 0m05, đầu bịt khăn bảy lớp chữ Nhân, khăn đen giữa trán có thêu ba Cổ Pháp giống như của Chánh Trị sự.

II. Đạo phục chức sắc Nữ phái:

1. Đạo phục Nữ Đầu Sư: Đầu Sư Nữ phái mặc một bộ Đạo phục toàn màu trắng; có thêu bông sen y như Đạo phục Đầu Sư Nam phái, áo chín dải, đội một cái Ni Kim Cô (Ni Kim Cô màu trắng), giống như của các vãi Chùa có thêu bông sen, bao quanh đầu một cái Kim Cô bằng vàng, trên Ni Kim Cô ấy phải choàng một cái mũ Phương Thiên (cái choàng bằng hàng cho thật mỏng, trên đỉnh mũ thêm một cái mũ bằng vàng chụp trọn đầu tóc), chính giữa ngay trước mắt có chạm Thiên Nhãn, bao quanh một vòng Minh Khí, cái choàng của mão Phương Thiên phải cho thật dài, ba thước ba tấc ba phân, vì mỗi khi ngự trên ngai; thì phải có hai vị Lễ sanh Nữ phái theo sau, nâng đỡ cho khỏi vướng dưới đất; chân đi giày vô ưu màu trắng, trên đỉnh mũi giày có thêu chữ “Hương”.

 

                                

                                                Nữ Đầu sư (12, 13, 14)                                                           Nữ Chánh Phối sư (15)

2. Đạo phục NChánh Phối Sư và Phối Sư: N Chánh Phối Sư mặc giống như Nữ Đầu sư, song không có mũ Phương Thiên, áo ba dải, nhưng trước ngực có thêu Thiên Nhãn, bao quanh một vòng Minh Khí, áo có thêu bông sen như của Đầu Sư, đầu đội Ni Kim Cô cũng như Đầu Sư, chân đi giày vô ưu, có Tịch đạo trước mũi, song không được phép đội mũ Phương Thiên.

- Phối Sư mặc Đạo phục giống như Chánh Phối Sư, áo có ba dải, chân đi giày vô ưu, có chữ Tịch đạo trước mũi, không được phép đội mũ Phương Thiên.

3. Đạo phục NGiáo Sư: Giáo Sư mặc Đạo phục màu trắng trơn, không thêu bông sen, áo ba dải; đầu đội Ni Kim Cô màu trắng, phải cho dài từ đầu tới gót, y như của Đầu Sư và Phối Sư; chân không đi giày.

4. Đạo phục NGiáo Hữu: Giáo Hữu mặc Đạo phục giống như Giáo Sư, song trên đầu không được đội Ni Kim Cô, chỉ giắt một bông sen trên đầu tóc, giữa bông sen có Thiên Nhãn.

5. Đạo phục NLễ Sanh: Lễ Sanh Nữ phái mặc Đạo phục như Nữ Giáo Hữu, nhưng trên đầu choàng ngang một đoạn vải mỏng cột ra sau ót, thả một mí dài một mí vắn, xuống cho tới khỏi trôn, ngay đầu tóc có giắt một cái bông sen không Thiên Nhãn.

6. Đạo phục NChánh Trị sự: Chánh Trị sự mặc Đạo phục giống như Lễ Sanh, song toàn bằng vải trắng, nịt ngang lưng một sợi dây vải trắng, cho thật cứng như dây nịt bề ngang 0m03, áo Đạo cổ trịt viền chỉ kim tuyến vàng, nơi tay trái có ba sắc Đạo, bề ngang 0m06, bề dài 0m10, đầu để trần.

7. Đạo phục NPhó Trị sự: Phó Trị sự mặc Đạo phục như Chánh Trị sự, song áo cổ trịt viền chỉ kim tuyến trắng, không được phép nịt ngang lưng một sợi dây như Chánh Trị sự, áo một dải, nơi tay trái cũng có ba sắc Đạo (bề ngang 0m03, bề dài 0m05).

8. Đạo phục NThông sự: Thông sự mặc một bộ Đạo phục bằng vải trắng, không được phép viền chỉ kim tuyến, mà hai bên cổ áo có thêu ba Cổ pháp của Đạo là Bình Bát vu, Phất chủ và bộ Xuân Thu, y như hình trên mũ Tiểu phục của Hộ Pháp, nịt ngang lưng một sợi dây bằng vải trắng cho thật cứng như dây nịt, bề ngang 0m03.

III. Đạo phục Chức sắc Hiệp Thiên đài:

1. Đạo phục Hộ Pháp: có hai bộ Đại phục và Tiểu phục.

- Bộ Đại phục, trên người phải mặc giáp, đầu đội Kim Khôi toàn bằng vàng, trên Kim Khôi có thể Tam Sơn, giống như cái chĩa ba ngạch, nghĩa là Chưởng Quản Tam Thiên bên Tây Phương Cực Lạc. Chân đi hài, trên đỉnh mũi hài có chữ “Pháp”, ngoài giáp thì choàng mảng bào sao cho bên trái phải giáp, bên phải thì mảng. Tay phải (bên Đạo, nghĩa là bên Thượng phẩm) cầm Gián Ma Xử (thể lấy Đời chế Đạo) còn bên trái (bên Thế nghĩa là bên Thượng Sanh) năm xâu chuỗi “Từ Bi” (thể lấy Đạo chế Đời) thành ra nửa Đời nửa Đạo. Ngang lưng cột dây lịnh sắc có ba màu Đạo thể Chưởng quản Tam giáo nơi mình, nắm trọn Thể Pháp và Bí Pháp đặng qui nhất, cái mối dây lịnh sắc phải ngay chính giữa bụng.

- Bộ Tiểu phục màu vàng (màu Đạo), đầu đội Hổn Nguơn Mạo màu vàng bề cao một tấc, ngay trước trán chính giữa có thêu ba cổ pháp của Tam giáo là bình Bát vu, cây Phất chủ và bộ Xuân Thu, ngay trên ba cổ pháp ấy có chữ “Pháp”, chân đi giày vô ưu màu trắng. Nơi đỉnh mũi giày có chữ “Pháp”, lưng nịt dây lịnh sắc như Đại Phục.

Khi ngồi Toà Tam giáo thì phải mặc bộ Tiểu phục, còn Đại phục chỉ để khi ngự trên ngai mình.

                   

Đức Hộ Pháp (16, 17, 18)

 

2. Đạo phục Thượng phẩm: có hai bộ Đại phục và Tiểu phục.

- Bộ Đại phục màu trắng, ngoài mặc áo lá màu xanh có viền chỉ kim tuyến bạc. Đầu để trần, chân đi giày vô ưu màu trắng, trước mũi có chữ “Đạo”, lưng buộc dây lịnh sắc như của Hộ Pháp song mối phải thả ngay bên phải. Tay phải cầm Long Tu Phiến (nghĩa là cây quạt kết đủ 36 lông cò trắng) trên đầu quạt ngay giữa có Phất chủ (thể quạt đưa các chơn hồn vào Tam Thập Lục Thiên, nghĩa là vào Thiên vị), tay trái nắm xâu chuỗi Từ bi (thể dâng Đạo vào cho Hộ Pháp).

- Bộ Tiểu phục màu trắng, lưng cột dây lịnh sắc như Đại phục, đầu đội Hổn Nguơn Mạo màu trắng giống như của Hộ Pháp, ngay giữa trán có thêu “Long Tu Phiến” ngay trên hình Long Tu Phiến có chữ “Đạo”.

Khi đến Toà Tam giáo thì phải mặc bộ Tiểu phục còn Đại phục chỉ dùng khi đến ngự trên ngai mình.

 

                       Đức Thượng Phẩm (19)            Đức Thượng Sanh (20)   Đức Thượng Phẩm-Hộ Pháp-Thượng Sanh (21)

3. Đạo phục Thượng sanh: có hai bộ Đại phục và Tiểu phục.

- Bộ Đại phục giống như của Thượng phẩm, đầu bịt “Thanh Cân”: một bao đảnh xanh, lưng mang dây Thần Thông, nghĩa là một đường lụa đỏ và nịt dây lịnh sắc như của Hộ Pháp và Thượng phẩm, song mối phải thả ngay về nơi bên trái. Nơi lưng giắt Thư Hùng Kiếm (thể tạo thế và chuyển thế), tay phải cầm cây Phất chủ (thể đưa thế vào cho Hộ Pháp) tay trái nắm xâu chuỗi “Từ Bi” (thể dâng Đạo cho Nhơn sanh) chân đi giày vô ưu màu trắng, trước mũi có chữ “Thế”.

- Bộ Tiểu phục giống như của Thượng phẩm, song ngay trước mũ, chính giữa có thêu Thư Hùng Kiếm và Phất chủ, ngay trên hình Thư Hùng Kiếm và Phất chủ có chữ “Thế” lưng cột dây lịnh sắc như Đại phục.

Khi đến Toà Tam giáo thì phải mặc bộ Tiểu phục còn Đại phục thì chỉ khi đến ngự trên ngai mình.

4. Đạo phục Thập Nhị Thời quân: có hai bộ Đại phục và Tiểu phục.

- Bộ Đại phục màu trắng, cổ trịt viền chỉ kim tuyến bạc, đầu đội mũ quạ màu trắng, lưng nịt dây lịnh sắc theo chi mình mà thả mối, chân đi giày vô ưu màu trắng.

- Bộ Tiểu phục màu trắng, Lưng nịt dây lịnh sắc y như Đại phục, Đầu đội mũ giống như Tiểu phục của Hộ Pháp, Thượng phẩm và Thượng sanh, tuỳ theo chi mình mà để Cổ pháp, chân đi giày vô ưu màu trắng.

Khi hành chính thì mặc bộ Tiểu phục, còn Đại phục mặc khi Đại lễ.

          

          Bảo Pháp (22)               Hiến Pháp (23)                  Khai Pháp (24)                   Tiếp Pháp (25)

          

          Bảo Đạo (26)               Hiến Đạo (27)                  Khai Đạo (28)                   Tiếp Đạo (29)

 

         

          Bảo Thế (30)               Hiến Thế (31)                       Khai Thế (32)                     Tiếp Thế (33)

5. Đạo phục Bảo Văn Pháp quân: Bộ Đại phục màu trắng, đầu đội Nhựt Nguyệt Mạo như các chức sắc Hiệp Thiên đài, hai bên ngay chính giữa có kết một bông sen năm cánh, trên mỗi bông thêu Thiên nhãn, ngay đường giữa trước mũ cũng kết một bông sen nhưng không thêu Thiên Nhãn, tất cả có ba bông sen trên mũ.

Lưng đai Bạch Tuyết Thần Quang màu trắng, bề dài ba thước ba tấc ba phân, bề ngang ba tấc ba phân ba ly; buộc mối chừa ra trước, đủ thắt một bông sen năm cánh.

Chân đi giày vô ưu màu trắng, trước mũi mỗi chiếc cũng có thêu bông sen nhỏ hơn.

6. Đạo phục Bảo sanh quân: Bộ Đại phục màu trắng, đầu đội Nhựt Nguyệt Mạo giống như các chức sắc Hiệp Thiên đài, ngay giữa mũ từ bìa lên 4 phân thêu một Thiên nhãn, tất cả có ba. Vòng theo vành mũ buộc một dây Tiên Thẳng (bề ngang 8 phân, bề dài hai thước) khi buộc để Thiên nhãn ngay giữa mũ, cho hai mối thòng xuống hai bên vai. Lưng đai Song Quang Thần Thông, nghĩa là một đường lụa trắng, kết hai bên hông hai vòng vô vi.

Chân đi giày vô ưu màu trắng.

7. Đạo phục của Tiếp dẫn Đạo nhân: có hai bộ Đại phục và Tiểu phục

- Đại phục: Mặc áo tràng trắng đầu đội Nhựt Nguyệt mạo, lưng buộc đường lụa trắng đánh ba tao, dưới có hai tui trắng, chân đi giày trắng.

- Tiểu phục: Mặc trường y trắng có 6 nút, lưng buộc đường lụa trắng đánh ba tao, dưới có hai tui trắng, đầu đội Hỗn Nguyên mạo trước mũ có thêu Cổ pháp và chữ Tiếp dẫn Đạo nhơn bằng quốc tự, chân đi giày trắng.

8. Đạo phục của Chưởng ấn: có hai bộ Đại phục và Tiểu phục

- Đại phục: Mặc áo tràng trắng đầu đội Nhựt Nguyệt mạo, lưng buộc đường lụa trắng đánh ba tao, dưới có hai tui trắng, chân đi giày trắng.

- Tiểu phục: Mặc trường y trắng có 6 nút, lưng buộc đường lụa trắng đánh ba tao, dưới có hai tui trắng, đầu đội Hỗn Nguyên mạo trước mũ có thêu Cổ pháp và hai chữ Chưởng ấn bằng quốc tự, chân đi giày trắng.

9. Đạo phục của Cải trạng: có hai bộ Đại phục và Tiểu phục

- Đại phục: Mặc áo tràng trắng đầu đội Nhựt Nguyệt mạo, hai bên mạo có dấu hiệu Tam giáo và Cổ pháp, trên Cổ pháp có cân công bình.

- Tiểu phục: Mặc trường y trắng có 6 nút, lưng mang dây nịt trắng, đầu đội Khôi Nguyên mạo trước mũ có thêu Thiên nhãn, có dấu hiệu cổ pháp, trên Cổ pháp có cân công bình và hai chữ Cải trạng bằng quốc tự.

                                 

                              Cải Trạng (34)         Chức sắc Hiệp Thiên Đài (35)

10. Đạo phục của Giám đạo: có hai bộ Đại phục và Tiểu phục

- Đại phục: Mặc áo tràng trắng đầu đội Nhựt Nguyệt mạo, hai bên mạo có dấu hiệu Tam giáo và Cổ pháp, trên Cổ pháp có cân công bình.

- Tiểu phục: Mặc trường y trắng có 6 nút, lưng mang dây nịt trắng, đầu đội Khôi Nguyên mạo trước mũ có thêu Thiên nhãn, có dấu hiệu cổ pháp, trên Cổ pháp có cân công bình và hai chữ Giám đạo bằng quốc tự.

11. Đạo phục của Thừa sử: có hai bộ Đại phục và Tiểu phục

- Đại phục: Mặc áo tràng trắng đầu đội Nhựt Nguyệt mạo, hai bên mạo có dấu hiệu Tam giáo và Cổ pháp, trên Cổ pháp có cân công bình.

- Tiểu phục: Mặc trường y trắng có 6 nút, lưng mang dây nịt trắng, đầu đội Khôi Nguyên mạo trước mũ có thêu Thiên nhãn, có dấu hiệu cổ pháp, trên Cổ pháp có cân công bình và hai chữ Thừa sử bằng quốc tự.

12. Đạo phục của Truyền trạng: có hai bộ Đại phục và Tiểu phục

- Đại phục: Mặc áo tràng trắng, đầu đội Nhựt Nguyệt mạo, hai bên mạo có dấu hiệu Tam giáo và Cổ pháp, trên Cổ pháp có cân công bình.

- Tiểu phục: Mặc trường y trắng có 6 nút, lưng mang dây nịt trắng, đầu đội Khôi Nguyên mạo trước mũ có thêu Thiên nhãn, có dấu hiệu cổ pháp, trên Cổ pháp có cân công bình và hai chữ Truyền trạng bằng quốc tự.

13. Đạo phục của Sĩ tải: có hai bộ Đại phục và Tiểu phục

- Đại phục: Mặc áo tràng trắng đầu đội Nhựt Nguyệt mạo, hai bên mạo có dấu hiệu Tam giáo và Cổ pháp, trên Cổ pháp có cân công bình.

- Tiểu phục: Mặc trường y trắng có 6 nút, lưng mang dây nịt trắng, đầu đội Khôi Nguyên mạo trước mũ có thêu Thiên nhãn, có dấu hiệu cổ pháp, trên Cổ pháp có cân công bình và hai chữ Sĩ tải bằng quốc tự.

14. Đạo phục của Luật sự: (Luật sự là phẩm cuối của Hiệp Thiên đài, Sau thời gian tập sự một năm, Luật sự được Hiệp Thiên đài công nhận vào hàng Luật sự chính vị; Luật sự có nhiệm vụ hành chính tại các văn phòng của Hiệp Thiên đài ba chi: Pháp, Đạo, Thế). Đạo phục có hai bộ Đại phục và Tiểu phục

- Đại phục: Mặc áo tràng trắng, hai bên vai có dấu hiệu Tam giáo và Cổ pháp, trên Cổ pháp có cân công bình đầu đội Nhựt Nguyệt mạo.

- Tiểu phục: Mặc trường y trắng có 6 nút, lưng mang dây nịt trắng, đầu đội Khôi Nguyên mạo trước mão có thêu Thiên nhãn, có dấu hiệu cổ pháp, trên Cổ pháp có cân công bình và hai chữ Luật sự bằng quốc tự./.

 Ngọc Tâm

 


[1] (Ngũ Chi Đại đạo gồm : Nhơn đạo, Thần đạo, Thánh đạo, Tiên đạo, Phật đạo; mỗi một tầng tượng trưng cho một Chi Đại đạo)

Giới thiệu vài nét về đạo phục đạo Cao đàiPháp Chánh truyền Cửu Trùng đài được Đức Chí Tôn ban trong đêm Rằm rạng 16 tháng 10 năm Bính Dần (thứ bảy 20.11.1926) (đêm đầu tiên của Lễ Khai Minh Đại đạo).          Pháp Chánh truyền Hiệp Thiên đài được Đức chí Tôn ban ngày 12 tháng Giêng năm Đinh
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
Khái quát quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về tôn giáo ở Việt Nam giai đoạn 1945-1954
An lạc Phật giáo hòa trong vinh quang của Đảng
Phong tục thờ cúng tổ tiên của người tín đồ Cao đài
Tổng Giám mục Phao lô Nguyễn Văn Bình nhân vật của những thời điểm lịch sử
Về việc đăng ký hoạt động và công nhận tổ chức tôn giáo
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong các văn bản pháp luật quốc tế và sự tương thích của pháp luật Việt Nam
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, bản sắc văn hóa của người Việt
Đạo Tin lành ở Việt Nam một cái nhìn tổng quát
Nghị quyết H.Res.20 của Hạ viện Mỹ - một sự phản ánh sai lệch tình hình tôn giáo tại Việt Nam.
Mùa Noel: Đọc thư chúc mừng Giáng sinh gửi đồng bào Công giáo của Hồ Chủ tịch
Video
Toàn văn bài phát biểu của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc tôn giáo có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Bài phát biểu của Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ Vũ Chiến Thắng tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Hình ảnh
Chiêm ngưỡng ngôi đền trên vách thủy tinh - 'kỳ quan nhân tạo' độc đáo Thái Lan
Lễ Sene Đolta của đồng bào Khmer
Một số hình ảnh của Đoàn Ủy ban Trung ương Mặt trận Lào xây dựng đất nước tại tỉnh Hà Nam, và tỉnh Quảng Ninh
Audio
Ông Bùi Thanh Hà, Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ trao đổi về vấn đề dâng sao giải hạn đang diễn ra tại một số chùa
Phỏng vấn Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Cần Thơ về công tác tuyên truyền, phổ biến Luật tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định 162/2017/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo tại địa phương


BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Đường Dương Đình Nghệ, P. Yên Hòa,Q. Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 0243 8 248 673 . Fax: 08041313
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn



Người chịu trách nhiệm chính: TS.Bùi Thanh Hà 
Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ

Đơn vị quản lý: Trung tâm Thông tin,
Ban Tôn giáo Chính phủ

Email:ttttbantongiao@chinhphu.vn