Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Ngày 16/10/2019 04:43 AM
Ấn phẩm sách
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 9/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 8/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 7/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 6/2019
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?















Chọn    Xem KQ
Khái quát quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về tôn giáo ở Việt Nam giai đoạn 1945-1954

    Tôn giáo không chỉ là một hình thái ý thức xã hội, mà còn là một tồn tại xã hội đặc biệt. Bởi vậy, trong hệ thống pháp luật của các nước nói chung và Việt Nam nói riêng đều đặc biệt quan tâm đến vấn đề này.

         Ở mỗi một giai đoạn lịch sử khác nhau, Nhà nước đã thể chế hoá các chủ trương về tôn giáo của Đảng thành các văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Vì vậy, pháp luật về tôn giáo ở nước ta thường xuyên được điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung phù hợp với sự thay đổi của thực tiễn. Cho đến nay, pháp luật về tôn giáo ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và trở thành một bộ phận không thể thiếu trong hệ thống pháp luật của nhà nước.

Là một quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo, có cả tôn giáo nội sinh và tôn giáo ngoại nhập, hơn ai hết Đảng và Nhà nước Việt Nam hiểu rõ tầm quan trọng của việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo đáp ứng và bảo đảm ngày một tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc và xây dựng đất nước ngày càng vững mạnh.

Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của các tôn giáo, từ khi nước nhà độc lập, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm, bảo đảm và tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, điều đó thể hiện sâu sắc trong chủ trương, chính sách; các bản Hiến pháp; các văn bản pháp luật điều chỉnh trực tiếp cũng như các văn bản pháp luật liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta. Có thể xem xét vấn đề này qua quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về tôn giáo giai đoạn từ năm 1945- 1954.

Đây là giai đoạn vô cùng khó khăn của đất nước bởi nhà nước non trẻ vừa ra đời, bên cạnh việc chống giặc ngoại xâm, chúng ta còn phải chống giặc đói, giặc dốt. Tôn giáo được thực dân Pháp sử dụng như một con bài để kích động, chia rẽ giữa đồng bào giáo và đồng bào lương; giữa chính quyền nhân dân và những người theo đạo, nhằm phá hoại sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc.

Tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ cách mạng lâm thời, ngày 03/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhìn nhận thấy tầm quan trọng của các tôn giáo - là bộ phận quan trọng trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Người đã đưa ra đề nghị “Thực dân và phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào giáo và đồng bào lương để dễ thống trị. Tôi đề nghị Chính phủ ra tuyên bố: tín ngưỡng tự do và lương giáo đoàn kết” và “nhiệm vụ đoàn kết giữa những người theo đạo và không theo đạo để chống lại âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc là một trong sáu nhiệm vụ quan trọng của Chính phủ”. Tiếp đó, ngày 20/9/1945, Chủ tịch nước đã ban hành Sắc lệnh (không số) yêu cầu nhân dân phải tôn trọng đền, chùa, lăng tẩm, nhà thờ, tất cả những nơi có tính cách tôn giáo.

Những quan điểm tự do tín ngưỡng, đoàn kết các tôn giáo trên đây đã được ghi nhận trong Hiến pháp 1946 – bản hiến pháp đầu tiên của nước ta. Tại lời nói đầu và Điều 10 của Hiến pháp đã khẳng định “Quyền tự do tín ngưỡng” là một trong các quyền cơ bản của công dân, đó là “Quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài” và công dân Việt Nam có quyền tự do tín ngưỡng, đoàn kết toàn dân không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo; tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam. Với việc tuyên bố tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, Hiến pháp năm 1946 đã tạo ra cơ sở pháp lý cho việc thực hiện chính sách đối với tôn giáo trên phạm vi cả nước.

Bên cạnh đó, các văn bản pháp luật thời kỳ này tiếp tục khẳng định chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân và sự đảm bảo của nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo như: Sắc lệnh số 35/SL, ngày 20/9/1945 về việc tôn trọng và không được xâm phạm chùa, lăng tẩm của tôn giáo “Đền, chùa, lăng tẩm, nhà thờ, tất cả các nơi có tính cách tôn giáo, bất cứ tôn giáo nào nhân dân đều phải tôn trọng, không được xâm phạm”; Sắc lệnh số 65/SL, ngày 23/11/1945 về việc bảo tồn cổ di tích và giao nhiệm vụ bảo tồn tất cả cổ di tích trong toàn cõi Việt Nam cho Đông Dương Bác cổ Học viện “Cấm phá huỷ những đền, đình, chùa, miếu hoặc những nơi thờ tự khác, những cung điện, thành quách của làng chưa được bảo tồn. Cấm phá huỷ bi ký, đồ vật, văn bằng, chiếu sắc, giấy má sách vở có tính chất tôn giáo hay là không nhưng có lợi cho lịch sử nhưng chưa được bảo tồn”; Sắc lệnh số 22/SL, ngày 18/12/1946 ấn định các ngày tết, kỷ niệm lịch sử và tôn giáo.

Khi thực dân Pháp quay lại xâm lược nước ta, chúng tiếp tục lợi dụng tôn giáo để chống phá cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Chúng đã mua chuộc, lợi dụng số tín đồ, chức sắc cực đoan, phản động trong các tôn giáo để tuyên truyền, xuyên tạc chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, sử dụng một số phần tử đội lốt tôn giáo thành lập lực lượng vũ trang, gây bạo loạn nhằm lật đổ chính quyền cách mạng. Một số văn bản về pháp luật tôn giáo thời kỳ này đã được ban hành đáp ứng nhu cầu “kháng chiến, kiến quốc” như tập Sắc lệnh năm 1949 về thuế đất và hoa màu cho các tôn giáo; Sắc lệnh số 133/SL, ngày 20/01/1953 về việc trừng trị các loại việt gian, phản động và xét xử những âm mưu hành động phản quốc; Sắc lệnh số 197/SL, ngày 19/12/1953 ban bố Luật cải cách ruộng đất; Nghị định số 315/TTg, ngày 04/10/1953 về chính sách đối với tôn giáo.

Các văn bản pháp luật trên đều in đậm tư tưởng nhân văn của người dân Việt Nam - có lý, có tình: “Những bãi tha ma, nghĩa điạ, đình, đền, chùa, nhà thờ, đạo Giatô, Cao đài có tính cách công cộng và các nhà đất phụ thuộc không có hoa lợi gì; các nhà cửa thuộc các đoàn thể Công giáo, Phật giáo... dùng vào việc dạy học, cứu thương, cứu tế không lấy tiền và các sân vườn phụ thuộc đối tượng được miễn thuế vĩnh viễn” (Tập Sắc lệnh năm 1949). Đồng thời, những văn bản này cũng bảo đảm tính cương quyết trừng trị những kẻ lợi dụng tín ngưỡng chống phá cách mạng. Điều 12, Sắc lệnh 133/SL, ngày 20/01/1953 quy định:

    “Kẻ nào vì mục đích phản quốc gây hiềm khích để phá hoại sự đoàn kết kháng chiến của các dân tộc trong nước, các tầng lớp nhân dân, các tôn giáo, các đảng phái và đoàn thể dân chủ, chia rẽ nhân dân với chính phủ, chia rẽ nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước bạn Miên, Lào, phá hoại tình hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân Liên Xô, Trung Quốc và các nước dân chủ nhân dân khác sẽ bị phạt tù từ 10 năm trở xuống. Nếu tội trạng nặng, sẽ bị phạt tù từ 10 năm đến chung thân, hoặc sẽ bị tử hình”.

Nội dung các văn bản thời kỳ này đều khẳng định:

- Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân;

- Đoàn kết đồng bào lương giáo;

- Tôn trọng, bảo vệ các cơ sở của tôn giáo;

- Tạo điều kiện cho các tôn giáo hoạt động.

Có thể thấy, hệ thống pháp luật về tôn giáo trong giai đoạn này chủ yếu là những quy định chung, mang tính nguyên tắc về đảm bảo tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân và nơi thờ tự của các tôn giáo; chưa xác định được nội dung và những quy định cụ thể để điều chỉnh đối với hoạt động của các tôn giáo; chưa có quy định về chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước (bộ, ngành) đối với lĩnh vực tôn giáo; chưa có cơ quan chuyên trách giúp Nhà nước theo dõi, quản lý đối với các tôn giáo. Chức năng quản lý nhà nước với hoạt động tôn giáo do Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện. Đây là điều không thể tránh khỏi bởi nước ta mới giành được độc lập, từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, lại phải đối đầu với nhiều thách thức, khó khăn (giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm).

Tuy nhiên, cũng nhận thấy rằng giai đoạn 1945-1954, mặc dù Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà mới ra đời, đứng trước nhiều khó khăn, thử thách, phải tập trung giải quyết nhiều công việc trọng đại của đất nước nhưng những văn bản pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo đã được ban hành kịp thời là cơ sở pháp lý để quản lý các hoạt động liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo. Điều này cũng đồng nghĩa với việc góp phần quan trọng vào việc “an dân”, tạo niềm tin trong đồng bào có đạo đối với Đảng và Nhà nước ta, phá tan âm mưu lợi dụng tôn giáo phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc của các thế lực thù địch. Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với các tôn giáo đã thể hiện bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước thật sự dân chủ, nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Hà Anh

Khái quát quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về tôn giáo ở Việt Nam giai đoạn 1945-1954Ở mỗi một giai đoạn lịch sử khác nhau, Nhà nước đã thể chế hoá các chủ trương về tôn giáo của Đảng thành các văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Vì vậy, pháp luật về tôn giáo ở nước ta thường xuyên được điều chỉnh, sửa đổi,
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
An lạc Phật giáo hòa trong vinh quang của Đảng
Phong tục thờ cúng tổ tiên của người tín đồ Cao đài
Tổng Giám mục Phao lô Nguyễn Văn Bình nhân vật của những thời điểm lịch sử
Về việc đăng ký hoạt động và công nhận tổ chức tôn giáo
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong các văn bản pháp luật quốc tế và sự tương thích của pháp luật Việt Nam
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, bản sắc văn hóa của người Việt
Đạo Tin lành ở Việt Nam một cái nhìn tổng quát
Nghị quyết H.Res.20 của Hạ viện Mỹ - một sự phản ánh sai lệch tình hình tôn giáo tại Việt Nam.
Mùa Noel: Đọc thư chúc mừng Giáng sinh gửi đồng bào Công giáo của Hồ Chủ tịch
Vài nét phân tích cách chắp tay và lạy của đạo Cao đài
Video
Toàn văn bài phát biểu của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc tôn giáo có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Bài phát biểu của Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ Vũ Chiến Thắng tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Hình ảnh
Chiêm ngưỡng ngôi đền trên vách thủy tinh - 'kỳ quan nhân tạo' độc đáo Thái Lan
Lễ Sene Đolta của đồng bào Khmer
Một số hình ảnh của Đoàn Ủy ban Trung ương Mặt trận Lào xây dựng đất nước tại tỉnh Hà Nam, và tỉnh Quảng Ninh
Audio
Ông Bùi Thanh Hà, Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ trao đổi về vấn đề dâng sao giải hạn đang diễn ra tại một số chùa
Phỏng vấn Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Cần Thơ về công tác tuyên truyền, phổ biến Luật tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định 162/2017/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo tại địa phương


BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Đường Dương Đình Nghệ, P. Yên Hòa,Q. Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 0243 8 248 673 . Fax: 08041313
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn



Người chịu trách nhiệm chính: TS.Bùi Thanh Hà 
Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ

Đơn vị quản lý: Trung tâm Thông tin,
Ban Tôn giáo Chính phủ

Email:ttttbantongiao@chinhphu.vn