Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Ngày 15/10/2019 03:34 PM
Ấn phẩm sách
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 9/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 8/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 7/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 6/2019
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?















Chọn    Xem KQ
Tổng Giám mục Phao lô Nguyễn Văn Bình nhân vật của những thời điểm lịch sử

Nhập đề

       Cuộc đời của Tổng Giám mục Nguyễn Văn Bình, từ đời sống linh đạo, đời sống mục vụ và vị chủ chăn cho đến đời sống của một người hoạt động chính trị - xã hội trải dài một đoạn lịch sử quan trọng của Giáo hội Công giáo Việt Nam thời hiện đại. Đức Tổng Bình như cách gọi thân thuộc của cộng đồng giáo hữu đã để lại những dấu ấn không thể phai mờ trong những chặng đường đầy thách đố với Giáo hội Công giáo Việt Nam. Ngài như vị TGM đầu tiên của giáo phận Sài Gòn khi Giáo hội Công giáo Việt Nam ra khỏi chế độ Đại diện Tông tòa hàng trăm năm, bước vào giai đoạn các giáo sĩ bản địa thực sự nắm quyền, chấm dứt giai đoạn truyền giáo. Ngài cũng thuộc số những TGM đầu tiên ở nước ta triển khai những đường hướng Canh tân và Hội nhập của Công đồng Vatican II (1962-1965) với biết bao hoạt động mới mẻ, độc đáo. Ngài cũng là vị TGM đầu tiên của giáo phận thành phố Hồ Chí Minh dẫn dắt đàn chiên của mình hội nhập với một thực tại mới mẻ, chế độ XHCN...
 
Thư tịch Giáo hội Công giáo Việt Nam đến nay vẫn chưa có một chuyên luận đầy đủ về Cụ[1]. Nhưng nhân vật này thực sự đã và đang trở thành đối tượng nghiên cứu của các học giả trong và ngoài Công giáo, của các học giả trong và ngoài nước vì tính hấp dẫn mà những hành vi, những dấu chỉ Đạo - Đời mà nhân vật này để lại.
 
Bài viết này của chúng tôi đề cập đến 2 thời điểm lịch sử, theo chúng tôi là quan trọng bậc nhất đối với người Mục tử nhân lành này mà trên cái nền lịch sử đó, những tư tưởng, hành vi của Ngài đã trở nên thân thiết như một biểu trưng với đường hướng phục vụ của Giáo hội Công giáo Việt Nam hôm nay “Sống Phúc âm giữa lòng dân tộc” (Thư Chung 1980), nhưng đồng thời cuộc đời hoạt động mục vụ của Ngài ở những thời điểm lịch sử phức tạp, đầy nghịch lý ấy đến nay vẫn để lại những ý kiến trái ngược...
 
Những thời điểm lịch sử của một Giáo hội và một cá nhân
 
Nghiên cứu tiểu sử của Đức Tổng Phaolô Nguyễn Văn Bình, chúng tôi đặc biệt chú ý hai thời điểm, hai giai đoạn then chốt, đó là giai đoạn 1954 - 1975 và 1975 cho đến những năm tháng cuối đời của cụ. Thực ra trên cái nền lịch sử dữ dội nhiều biến động và gay gắt của giai đoạn này, Giáo hội Công giáo Việt Nam có rất nhiều những nhân vật nổi trội gắn liền với những sự kiện lịch sử của Giáo hội và dân tộc, thậm chí gắn liền với những bước ngoặt của lịch sử. Chẳng hạn, nếu không biết được, hiểu được những hoạt động của những nhân vật như các Giám mục Lê Hữu Từ, Phạm Ngọc Chi, Ngô Đình Thục, Hoàng Văn Đoàn... thì khó có thể hiểu hết các góc cạnh của lịch sử Giáo hội Công giáo Việt Nam sau Hiệp định Giơnevơ đến khi giải phóng miền Nam (4-1975). Cũng như vậy, với lịch sử của Giáo hội Công giáo Việt Nam đương đại, từ 1975 đến nay, người ta không thể bỏ qua những hoạt động của các nhân vật như các GM Nguyễn Kim Điền, Nguyễn Sơn Lâm, Trịnh Văn Căn, Trịnh Như Khuê... và tất nhiên TGM Phaolô Nguyễn Văn Bình.
 
Vấn đề là ở chỗ cần phải làm rõ “những đòi hỏi lịch sử”, từ cả hai phía Đạo và Đời và những nhân vật “của những thời điểm lịch sử ấy” đã đáp ứng như thế nào, góp phần đưa Giáo hội sang trang sử mới.
 
Tìm một chỗ đứng trong lòng dân tộc: TGM Phaolô Nguyễn Văn Bình ở thời điểm lịch sử 1960-1975
 
Chúng ta cũng biết rằng sau chiến tranh thế giới lần thứ hai trong điều kiện thế giới chia thành 2 phe xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa, cục diện chiến tranh lạnh diễn ra ngày càng gay gắt. Cũng chưa bao giờ vấn đề tôn giáo, đặc biệt là Công giáo lại trở thành vấn đề chính trị lớn trong nhiều quốc gia, nhiều khu vực. Cùng với quá trình giải thể chủ nghĩa thực dân, Giáo hội Công giáo ở nhiều nước châu Á, đặc biệt là những nước trong quỹ đạo của chủ nghĩa cộng sản như Việt Nam thực sự đứng trước một cục diện mới. Nhận xét về điều này có nhà nghiên cứu lịch sử Kitô giáo hiện đại ở châu Á đã viết: “Những vấn đề đặt ra sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, trước sự phát triển rất ấn tượng của chủ nghĩa cộng sản và những điều kiện do hoàn cảnh chính trị bất lợi đặt ra buộc phần lớn các Giáo hội Á châu phải thích nghi với cơ cấu tổ chức đã được thừa kế từ thời kỳ truyền giáo, bằng cách tìm kiếm những khả năng tồn tại cho mình, đôi khi là bất hợp pháp. Tất cả phải học cách thỏa hiệp với môi trường chính trị văn hóa - xã hội của các học thuyết, các tôn giáo, triết học.”[2]
 
Chúng ta hãy trở lại với tình hình của Giáo hội Công giáo miền Nam trước và sau khi Đức Giáo hoàng Gioan XXIII cho lập hàng giáo phẩm bản địa ở Việt Nam vào năm 1960. Sự kiện này theo chúng tôi đặt ra cho Giáo hội Việt Nam trước hết ở miền Nam: thứ nhất, việc được thừa nhận chấm dứt giai đoạn lịch sử truyền giáo và chế độ Đại diện Tông tòa, chủ yếu của các giám mục nước ngoài, qua giai đoạn hàng giáo sĩ bản địa nắm quyền, nhưng lại trong điều kiện đất nước chia cắt, ngay tại miền Nam Giáo hội cũng phải tự giải “bài toán Nam - Bắc” trong vấn đề nhân sự cũng như việc phân chia các giáo phận sau cuộc di cư của hàng chục vạn người Công giáo miền Bắc vào Nam.
Thứ hai, đặc điểm chính trị ở miền Nam là chính quyền Đệ nhất cộng hòa của Ngô Đình Diệm vốn dựa vào đạo Thiên Chúa và tính cách gia đình trị, khiến chính quyền cũng như Giáo hội có những xung đột trong việc bố trí các nhân vật chủ chăn. Bình luận về việc này gần đây nhất, linh mục Thiện Cẩm có viết: “Hồi ấy, chính quyền Việt Nam Cộng hòa mong muốn cho Đức cha Ngô Đình Thục được chuyển từ Vĩnh Long về làm TGM Sài Gòn. Ngài vừa là bào huynh của Tổng thống, vừa là niên trưởng của các giám mục miền Nam, thế nên uy thế rất mạnh. Nhưng Tòa thánh rất khôn ngoan, đã đưa Đức TGM Ngô Đình Thục về Huế, quê hương của ngài, và chuyển Đức Tổng Bình từ Cần Thơ lên Sài Gòn.”[3]
 
Thứ ba, giải quyết sao đây trước di sản của một Giáo hội mà những giai đoạn quan trọng nhất của thời kỳ truyền giáo lại là thời thuộc địa chịu những ảnh hưởng nặng nề, dù được nâng đỡ không ít của chủ nghĩa thực dân. Hơn thế nữa, não trạng “Kitô giới (Chretienté)” kinh viện kéo dài trong lịch sử trước Công đồng Vatican II, để tạo ra một diện mạo mới của một Giáo hội tự lập. Điều này đòi hỏi trên mọi chiều kích: Thần học, đời sống linh đạo, cơ cấu tổ chức, cho tới thực hành nghi lễ phụng vụ, đời sống đức tin.
Tất cả những điều trên, xin nhắc lại, lại diễn ra trong điều kiện chiến tranh ác liệt.
Ngày 24-10-1960, một thời điểm quan trọng của lịch sử Giáo hội Công giáo Việt Nam, khi được Toà thánh ban Tông hiến nâng hàng giáo phẩm bản quốc của Giáo hội Công giáo Việt Nam, thành lập 3 giáo tỉnh Hà Nội, Huế và Sài Gòn, chấm dứt lịch sử truyền giáo hàng trăm năm. Với nhân vật của chúng ta đây là dấu mốc đầu tiên, khi ngài được bổ nhiệm làm Tổng giám mục Sài Gòn, Tổng giáo phận lớn và quan trọng nhất ở nước ta lúc đó[4].
 
Vai trò lịch sử của TGM Nguyễn Văn Bình, theo chúng tôi có lẽ được thể hiện ở những chiều kích sau đây:
 
- Thứ nhất, về phương diện nhân sự, việc lựa chọn giám mục Cần Thơ, tấn phong Tổng giám mục Chính toà tiên khởi của Tổng giáo phận Sài Gòn giải quyết được bài toán chính trị - tôn giáo phức tạp lúc đó giữa Toà thánh và Chính quyền Sài Gòn. Không ít người như Lm Thiện Cẩm đã nhận xét sự “rất khôn ngoan” đó của Toà thánh. Theo chúng tôi, cũng cần nhấn mạnh thêm rằng, việc lựa chọn này còn góp phần quan trọng vào việc giải quyết những “xung đột Nam - Bắc” khi âm ỉ khi bộc lộ gay gắt, trong nội bộ Giáo hội Công giáo miền Nam từ sau 1954.
 
Cuộc di cư 1954, trong đó chủ yếu là lực lượng người Công giáo miền Bắc đã thay đổi hoàn toàn bản đồ địa tôn giáo của Công giáo nước ta, khi mà miền Nam đã chiếm tới 7/9 giáo dân ở miền Nam. Các giám mục di cư như Lê Hữu Từ, Phạm Ngọc Chi, linh mục Hoàng Quỳnh... có vai trò rất lớn, bên cạnh trường hợp Giám mục Ngô Đình Thục. Rõ ràng nhân vật Phaolô Nguyễn Văn Bình, từ tính cách đến nguồn gốc xuất thân là phù hợp với tâm lý số đông của giáo dân miền Nam[5].
 
- Thứ hai, điều quan trọng hơn ngay lúc đó Giám mục Nguyễn Văn Bình đã thể hiện được những khả năng của một đường hướng tôn giáo - chính trị thích hợp mà bản thân Toà thánh đã sớm thấy. Một mục tử thuần thành, mẫu mực, giản dị và từ trong bản chất đã sớm bộc lộ
đường hướng canh tân và hoà giải, rất phù hợp với những tư tưởng thần học có tính bước ngoặt của Công đồng Vatican II (1962-1965).
Về mặt chính trị, GM Nguyễn Văn Bình còn là người có khả năng giữ được mối quan hệ đúng đắn, trong đó quan trọng nhất là người có khả năng “giữ được một khoảng cách cần thiết giữa chính trị và tôn giáo”, khi mà chế độ Ngô Đình Diệm ngày càng lộ rõ tính chất chống cộng sản, độc tôn Công giáo, kỳ thị các tôn giáo khác.
 
Đời sống tôn giáo - chính trị, xã hội ở miền Nam nước ta lúc đó đặc biệt cần những mẫu người như thế này, điều mà Toà thánh sớm thấy. Những năm gay gắt của cuộc chiến tranh cục bộ, khi lực lượng quân Mỹ ngày càng đông đảo ở miền Nam, đường hướng bác ái, hoà giải trên cơ sở tình tự dân tộc của TGM Nguyễn Văn Bình đã bắt đầu có những hiệu ứng tôn giáo và xã hội tích cực. Thành phố Sài Gòn lúc đó đã bắt đầu nổi lên các cuộc vận động chính trị và tôn giáo đòi dân chủ, hoà bình, dân sinh kết hợp với các cuộc bãi công, bãi khoá... Đây là đêm trước của phong trào tìm về dân tộc nổi tiếng của người Công giáo miền Nam. Người Công giáo miền Nam đã ghi nhận thái độ đúng đắn ấy của GM Nguyễn Văn Bình trước sức ép của 2 phía: phong trào quần chúng (đặc biệt là công nhân và sinh viên), cùng với phong trào của các linh mục Tuyên uý Thanh lao công (như Trương Bá Cần, Phan Khắc Từ, Trần Thế Luân...) và với một bên là sự đàn áp của chế độ Nguyễn Văn Thiệu với lời tuyên bố giản dị mà kiên quyết: “Nếu họ không làm chính trị mà hành động trong tinh thần bảo vệ quyền lợi chính đáng của giới lao động thì tôi không cấm họ làm theo lương tâm”.
 
Lựa chọn con đường đứng ngoài các đảng phái chính trị để thực hiện sự đoàn kết của Dân Chúa, đóng góp với quê hương dân tộc đang trong chiến tranh  với vị thế của mình là nét đặc sắc của nhân vật lịch sử này trước năm 1975.
Xin trở lại với những đóng góp liên quan của GM Nguyễn Văn Bình trong những năm tiếp theo khi đường hướng Canh tân - Nhập thế của Công đồng Vatican II cũng như đường hướng Canh tân và Hoà giải (giữa những năm 70) của Toà thánh ngày càng ảnh hưởng sâu sắc đến Giáo hội Công giáo ở miền Nam. Đã có nhiều bài viết sinh động về việc này, khẳng định vai trò “nhạc trưởng” của TGM Nguyễn Văn Bình trong các sáng kiến lập ra nhóm “Canh tân - Hoà giải” nổi tiếng ở miền Nam lúc đó (Nguyễn Huy Lịch, Nguyễn Ngọc Lan, Trương Bá Cần, Trần Tam Tỉnh, Nguyễn Văn Trung, Lý Chánh Trung...), cũng như nhóm “Sống Đạo” và Tạp chí Nhà Chúa, hoặc nhóm “Liên Tu sĩ thành phố[6].
 
Thực ra, trước sự kiện này đã có bức Tâm thư cũng rất nổi tiếng của Đức TGM Nguyễn Kim Điền ngày 1-4-1975, trong đó đã có những câu như thế này: “Chiến tranh đã chấm dứt trên giáo phận Huế. Đó là điều chúng ta mong ước và cầu nguyện từ 30 năm nay. Thời gian sống trong hãi hùng, lo âu qua rồi... Giờ đây đã đến lúc chúng ta hoan hỷ sẵn sàng và hăng say cộng tác với mọi người thiện chí dưới sự chỉ đạo của Chính phủ cách mạng để xây dựng lại quê hương...”.
 
Hai tư liệu lịch sử gần như cùng một thời điểm. Nhưng chỉ có một trong hai tác giả của chúng có khả năng và điều kiện đi tiếp đến đích cùng của ý nguyện.
 
Cũng cần phải nói thêm rằng, đại thắng Mùa xuân 1975 chưa phải là sự kết thúc của câu chuyện Công giáo và Cộng sản, Công giáo và Dân tộc. Cả hai phía Đạo - Đời, Nhà nước và Giáo hội cần nhiều thời gian hơn nữa để suy ngẫm, đối thoại và nghiệm sinh. Những tư tưởng có tính tiên tri của TGM Nguyễn Văn Bình cũng vậy. Lm Nguyễn Hồng Giáo, trong một bài viết về TGM Nguyễn Văn Bình “Phục vụ công cuộc Hoà giải”, có đoạn: “Hôm nay tôi lấy làm buồn phiền mà thừa nhận rằng năm 1975 tôi đã có lần phải kinh khiếp và giận giữ. Hồi ấy khi Sài Gòn sụp đổ, Đức cha Bình công bố lá thư mục vụ kêu gọi khá rõ ràng phải cộng tác với người cộng sản chiến thắng. Hôm nay, tôi đã biết đúng hơn rằng đó là sự khôn ngoan không phải là phản bội. Miền Bắc đã chiến thắng, nguời Mỹ bị đẩy đi, đất nước được thống nhất. Tình cảm yêu nước là chính đáng; vả chăng không ít người trong giới trí thức Công giáo cũng chia sẻ những tâm tình đó. Nhưng không phải là các giám mục phía Bắc, lại càng không phải là Hội thừa sai Paris (MEP), hội này cung cấp phần lớn nhân sự truyền giáo ở Việt Nam và có khuynh hướng chống cộng triệt để…
 
Vị TGM đã phải trải qua những năm khó khăn. Điều đó được giải thích như là “cộng tác với kẻ thù”. Nhưng qua đó, ngài chỉ muốn thúc đẩy con chiên của mình can đảm và bình tĩnh sống Phúc Âm trong một xã hội đã thay đổi (tác giả nhấn mạnh)... Đức cha Nguyễn Văn Bình đã là một nhà mục tử và một nhà hoà giải”[7].
 
Những con người của những bước ngoặt lịch sử, trong Đạo cũng như ngoài Đời, thường vẫn phải đối diện với những trạng thái như vậy trước khi tư tưởng của mình thực sự đến được với muôn người.
 
Nói tóm lại ở thời điểm lịch sử thứ nhất, chúng tôi muốn được nhấn mạnh một số điểm sau đây trong tiểu sử nhân vật của chúng ta. Trước hết, phải khẳng định rằng nếu không có những chủ trương lớn của Tòa thánh như việc thực hiện chính sách địa phương hóa, khiến Giáo hội Công giáo Việt Nam bước vào giai đoạn tự chủ về nhân sự, tài sản và tổ chức (dĩ nhiên trong khuôn khổ của Giáo luật), cũng như sự kiện lớn bậc nhất trong lịch sử 21 Công đồng của Giáo hội Công giáo là sự ra đời Công đồng Vatican II, nói hẹp lại là sự chuyển đổi của chính sách đối đầu đặc biệt trong cục diện chiến tranh lạnh dưới thời Giáo hoàng Piô XI và Piô XII sang chính sách canh tân, nhập thế và đối thoại từ thời Giáo hoàng Gioan XXIII thì cũng không thể xuất hiện những nhân vật như TGM Nguyễn Văn Bình.
 
Thứ hai, ngay trong thời điểm đó, nhân vật của chúng ta đã tỏ rõ khả năng phi thường của mình trong việc đáp ứng những nhu cầu của lịch sử, đặc biệt góp phần dẫn dắt Giáo hội Công giáo Việt Nam vượt qua những thử thách gay gắt đầy nghịch lý của chiến tranh, bước đầu khẳng định chỗ đứng của mình trong môi trường xã hội hoàn toàn mới mẻ khi chế độ Sài Gòn sụp đổ đầu năm 1975.
 
Thích ứng với Chủ nghĩa xã hội và khẳng định đường hướng cho Giáo hội Công giáo Việt Nam
 
Công giáo trong môi trường XHCN đặc biệt là ở miền Nam, sau khi Sài Gòn giải phóng 30-4-1975 đã trở thành nơi tiêu biểu cho mối quan hệ này.
 
Trước hết cần nhắc lại rằng, cộng đồng Kitô hữu ở châu Á vào thời điểm ấy như nhận xét của C. Prudhomme và J.F Zorn: “một cộng đồng thiểu số mong manh, dễ rạn vỡ, nhưng lại có tầm quan trọng đáng kể với Giáo hội”[8]. Các cộng đồng Kitô ấy, trừ Phillipin là một ngoại lệ, vì thế, như đứng ngoài lề (marginale), khiến A. Forest dùng hình ảnh “tế bào hóa” (l’encellulement) để mô tả chúng, với một kích thước vừa đủ để tự sinh sản trong thế sống khép mình.
 
Lẽ dĩ nhiên không phải ở nước nào thuộc châu Á cũng vậy. Hai tác giả trên đi đến một nhận xét đáng chú ý: “Những vấn đề đặt ra sau Chiến tranh thế giới thứ hai, trước sự phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa cộng sản và những điều kiện chính trị, xã hội bất lợi khác đã đặt phần lớn các Giáo hội Kitô ở châu Á phải thích nghi với cơ cấu được kế thừa từ thời kỳ truyền giáo. Tất cả phải học cách thỏa hiệp với môi trường chính trị, xã hội và văn hóa, các học thuyết tôn giáo hoặc triết học vốn rất khác biệt với truyền thống Kitô giáo”[9].
 
Trở lại với tình hình Giáo hội Công giáo Việt Nam sau Giải phóng. Có lẽ đây là một trong những chứng từ sớm nhất nói về tâm tư của những người Công giáo với chế độ mới. Trong bài viết của Lm Chân Tín: Giới Công giáo trước vấn đề thống nhất và tiến lên chủ nghĩa xã hội nhân dịp tác giả được tham gia Đoàn đại biểu miền Nam ra thăm miền Bắc, ngay sau khi miền Nam vừa giải phóng. Trong bài, tác giả nêu rõ “ba băn khoăn” cơ bản của người Công giáo, trước hết giới trí thức Công giáo miền Nam lúc ấy:
 
- Băn khoăn thứ nhất là băn khoăn về cái nghèo.
- Băn khoăn thứ hai là băn khoăn về tự do dân chủ.
­- Băn khoăn thứ ba là băn khoăn về tự do tôn giáo, tín ngưỡng.
 
Riêng về “băn khoăn thứ ba” đó, tác giả nói rõ là “riêng cho giới Công giáo”, vì với sự nhạy cảm của mình, ông không e ngại phân tích cụ thể hơn “Giới Công giáo nghĩ rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin nhìn Thiên Chúa giáo như một ảo tưởng, nên nếu Nhà nước có ban Sắc lệnh Tự do tôn giáo, thì đó chỉ là một cái gì đó tạm thời mà thôi...”[10].
 
Ở thời điểm đó, đây là những “vấn đề rất mới” bắt đầu lộ ra trong quan hệ Công giáo Dân tộc (dân tộc xã hội chủ nghĩa) và Công giáo với Nhà nước (xã hội chủ nghĩa).
 
Cũng cần nói thêm rằng, sau khi đất nước ta thống nhất, bối cảnh quốc tế cũng đã chuyển sang một cục diện phức tạp mới của thời kỳ “chiến tranh lạnh”. Nhiều sự kiện chính trị quốc tế phức tạp khiến cho việc nhận thức “những giá trị của chủ nghĩa xã hội” càng thêm khó khăn như: Pônpốt và Khơme đỏ ở Campuchia những năm 1975-1979; những ảnh hưởng còn nặng nề của thời kỳ “Cách mạng văn hóa” ở Trung Quốc với đời sống tôn giáo ở nước này, những quan điểm tả khuynh trong Hiến pháp và chính sách tôn giáo của Liên xô và nhiều nước xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tôn giáo vẫn chưa hề thuyên giảm...
 
Còn ở nước ta, thập kỷ 1970 - 1980 cũng đầy rẫy những sự kiện ảnh hưởng phức tạp đến việc Công giáo đồng hành với chủ nghĩa xã hội trong thực tiễn. các cuộc chiến sự biên giới, sự khủng hoảng kinh tế - xã hội sâu sắc và toàn diện do sự phá sản của cơ chế quan liêu, bao cấp và tư duy giáo điều, duy ý chí... Tất cả là những thách đố to lớn cho đường hướng nói trên.
 
Công đồng Kitô hữu Việt Nam lúc đó có những khó khăn riêng khác. Sau ngày 30-4-1975, lần đầu tiên Giáo hội Công giáo Việt Nam bắt buộc phải tính đến việc chỉ có thể dựa trên sức lực của chính mình sau khi các nhà truyền giáo nước ngoài ra đi hoặc bị trục xuất. Ngay sau đó là làn sóng di tản (thuyền nhân) mà trong số đó có không ít người Công giáo (130.000 người với hàng trăm linh mục, tu sĩ...).
Trong một bài viết cách đây nhiều năm, chúng tôi có nhận định rằng: “Chính ở thời điểm đặc biệt nhạy cảm và phức tạp đó ở Sài Gòn đã nổi sáng lên vai trò của TGM Phaolô Nguyễn Văn Bình, người có thể coi là bậc tiên tri về sự hòa giải và hội nhập, “hòa giả và hòa hợp dân tộc” sau chiến tranh, về sự thiết kế đường hướng đồng hành với chủ nghĩa xã hội cho cả Giáo hội Công giáo Việt Nam”[11].
 
Giữa bộn bề công việc khi đường phố Sài Gòn còn ngổn ngang, nhiều góc phố chưa tan hết mùi thuốc súng, tâm trạng hoang mang, chộn rộn của không ít người Công giáo muốn trốn chạy khỏi những băn khoăn rắc rối của thời cuộc và ràng buộc ý thức hệ, dựa vào tinh thần Sắc lệnh về tôn giáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh (tức Sắc lệnh 234) ban bố từ năm 1955, Chính sách 10 điểm của Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (1-4-1975), TGM Nguyễn Văn Bình đã tỉnh táo, kịp thời ra Thư gửi linh mục, tu sĩ, giáo dân ngày 5-5-1975, giữa lúc dòng người Công giáo hoảng hốt tìm cách di tản đang tăng lên. Bức thư lịch sử có lời kêu gọi tha thiết: “Từ ngày 30-4 vừa qua, chiến tranh đã chấm dứt, hoà bình đã lập lại trên đất nước thân yêu của chúng ta. Từ nay không còn bom đạn, tang tóc, hận thù, phân ly... Tất cả những tai hoạ đó đã thuộc về dĩ vãng. Đây là một niềm vui chung của cả dân tộc và, với cái nhìn theo Đức tin của người tín hữu, đây cũng chính là một hồng ân của Thiên Chúa”[12].
 
Sau đó, trong bức Thư chung lịch sử (22-11-1975), TGM Nguyễn Văn Bình còn có sự phân tích, nhận định đầy tính tiên tri: “chắc chắn anh chị em không sợ thống nhất mà có lẽ anh chị em sợ thống nhất trên cơ sở chủ nghĩa xã hội. Nhưng xã hội chủ nghĩa là một phương thức sản xuất không cho phép người bóc lột người, mà nhằm phân chia lợi tức cho hợp lý...”[13].
 
Lá thư này còn hé ra đường hướng của Thư Chung 1980, khi Đức Tổng Nguyễn Văn Bình chỉ ra: “Hơn mọi lúc, giờ đây người Công giáo phải hoà mình vào nhịp sống của toàn dân đi sâu vào lòng dân tộc. Thay vì để cho những tin đồn vô căn cứ làm cho chúng ta hoảng hốt, hoang mang hay khép kín, chúng ta phải hướng mình theo trào lưu của lịch sử, phải có thái độ bình tĩnh, sáng suốt và tích cực trước tình thế mới”[14].
 
Cũng ngay sau đó, TGM Nguyễn Văn Bình còn gửi thư cho Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, trong đó khẳng định thái độ: “Tán thành công lập hóa các trường tư thục, như một phương tiện thực thi chủ trương miễn học phí của Chính phủ” và “sẵn sàng để Nhà nước sử dụng các cơ sở tư thục Công giáo trong giáo phận Sài Gòn vào công tác giáo dục ngay từ niên khóa 1975-1976...”[15].
 
Bình luận ý nghĩa của hành động sáng suốt lúc ấy của TGM Nguyễn Văn Bình, ngót 30 năm sau, C.Prudhomme và J.F.Zorn viết “TGM Nguyễn Văn Bình đã kêu gọi giáo dân miền Nam tham gia tích cực vào việc tái thiết đất nước. Giám mục hy vọng sẽ vượt lên trên sự quốc hữu hóa bằng cách trả lại cho Nhà nước các trường học, bệnh viện và phần lớn các bất động sản”[16].
Các tác giả này cũng nhận xét rằng ở Việt Nam, những năm đầu sau thống nhất đất nước, chính quyền đã “có quyền uy lớn hơn với sự sống còn của Giáo hội, hạn chế tự do, những vụ kiện cáo và bắt giữ, đóng cửa các chủng viện ở miền Bắc, ngưng lại các lễ phong chức linh mục...”. Nhận xét này có những cơ sở thực tế nhất định. Nhưng chắc chắn hai tác giả ngoại quốc này cũng bỏ qua nhiều sự kiện phức tạp, chống đối chính quyền của một bộ phận nhỏ các linh mục vẫn giữ “não trạng Hố Nai”, gây ra nhiều vụ lộn xộn và bạo loạn ở một số địa điểm và ngay ở trung tâm Sài Gòn lúc đó...
 
Nhưng phải nói rằng đóng góp thực tiễn quan trọng bậc nhất của TGM Nguyễn Văn Bình lúc này là việc “dưới triều đại Ngài, có hai biến cố lớn” đó là, ủng hộ việc thành lập Ủy ban vận động Công giáo thành phố Hồ Chí Minh và quan trọng hơn Ngài đã cho phép các linh mục và tu sĩ được tham gia tổ chức này với đường hướng vận động yêu nước, xây dựng quê hương và đoàn kết dân tộc[17].
 
Lẽ dĩ nhiên sự kiện Đại hội các Giám mục Việt Nam tiến hành tại thủ đô Hà Nội (từ 24-4-1980 đến 1-5-980), được coi là Đại hội thành lập Hội đồng Giám mục Việt Nam với bức Thư Chung nổi tiếng, khẳng định đường hướng Sống Phúc Âm giữa lòng Dân tộc để phục vụ hạnh phúc đồng bào, đường hướng mà đến hôm nay vẫn còn nguyên giá trị.
 
Đã có quá nhiều bài viết khẳng định vai trò người dọn đất và gieo mầm cho sự kiện lịch sử này của Đức Tổng giám mục Nguyễn Văn Bình. Cần nói thêm rằng, thời điểm gieo mầm cho đường hướng mục vụ ấy đã được bắt đầu ngay từ sau ngày 30-4-1975 với cả quá trình suy tư về thần học, sự vận dụng Học thuyết xã hội Công giáo theo tinh thần của Công đồng Vatican II cũng như thực tiễn của Giáo hội Công giáo Việt Nam mà Ngài là một trong những người có đóng góp quan trọng nhất.
 
Chúng tôi muốn khép lại bài này bằng những nhận xét về một đóng góp khác, độc đáo và căn bản hơn, đó là những suy tư về thần học của Ngài có ý nghĩa như những “đóng góp về lý thuyết” cho đường hướng mới của Giáo hội Công giáo Việt Nam ở bước ngoặt lịch sử này.
Chúng tôi cũng hiểu rằng, TGM Nguyễn Văn Bình không thể là nhà thần học “chuyên nghiệp”. Sứ vụ to lớn của Ngài, người mục tử tiêu biểu của Giáo hội ở thời điểm lịch sử, là ở việc cùng với các đấng bậc chăn dắt đàn chiên của một Tổng giáo phận mà số phận lịch sử đã dành cho nó một vị thế lớn và quan trọng nhất trên tất cả các phương diện Đạo - Đời.
 
Chúng tôi cũng chưa có điều kiện thu thập hết những văn phẩm của Ngài. Nhưng chỉ với bốn tư liệu sau đây mà chúng tôi cho là những tư liệu tin cậy, quan trọng bậc nhất để có thể phác họa “gương mặt thần học” của Ngài, đó là: bài Thư Chung về thống nhất đất nước (5-5-1975);phát biểu tại Hội nghị Hiệp thương thống nhất (20-12-1975); phát biểu tại Đại hội các Giám mục thế giới có tên Sống, truyền đạt Đức tin trong môi trường xã hội chủ nghĩa (1977); và bài nói, Phúc Âm, Động lực tuyệt hảo để sống tinh thần xã hội chủ nghĩa (1976).
 
Đọc kỹ những văn bản này, chúng tôi xin được ghi nhận những đóng góp về mặt thần học cũng như những ý tưởng về sự vận dụng  Học thuyết xã hội Công giáo theo tinh thần của Công đồng Vatican II mà Ngài luôn tâm niệm như sau.
 
Thứ nhất, mặc dù thấy rõ sự khác biệt về ý thức hệ giữa Cộng sản và Công giáo, nhưng trong bối cảnh mới của đất nước sau biến cố 1975, TGM Nguyễn Văn Bình cũng đã chỉ ra cho người Công giáo Việt Nam những góc nhìn tích cực mới mẻ trong quan hệ giữa Công giáo và Cộng sản, Nhà nước và Giáo hội.
 
Phải nói ngay rằng từ năm 1975 Đức TGM đã có những suy tư đầu tiên thể hiện trong phát biểu tại Hội nghị hiệp thương chính trị, thống nhất đất nước (20-12-1975). Một mặt Đức TGM khẳng định lại ý kiến của TGM Nguyễn Kim Điền trong Thông cáo 22-11-1975, đồng thời khẳng định đường hướng của Thư Chung về thống nhất đất nước (5-5-1975) mà chính bản thân Ngài là tác giả: “Thống nhất trên cơ sở CNXH có thể làm Nam Bắc xum họp, nước mạnh dân giàu, ai cũng được hạnh phúc, ai cũng được tôn trọng”. Hoặc một câu khác: “XHCN đích thực chính là Kitô giáo sống một cách trọn vẹn bằng cách phân chia của cải và bình đẳng căn bản”.
 
Theo chúng tôi thì những suy nghĩ chín muồi hơn và toàn diện hơn được thể hiện trong tham luận quan trọng của Ngài tại Đại hội Giám mục Thế giới 1977 với tiêu đề Sống và truyền đạt Đức Tin trong môi trường XHCN.
 
Tác giả đã không e ngại, trong điểm xuất phát luận lý, nêu rõ sự khác biệt có thực lúc đó giữa những người mácxít và Công giáo trong nhiều vấn đề tư duy cơ bản. Tham luận viết: “Người Cộng sản Việt Nam nhìn Giáo hội Công giáo Việt Nam qua những sự kiện lịch sử từ khi Tin Mừng tới Việt Nam cho đến những gì đang xảy ra hôm nay. Họ phân tích mọi yếu tố lịch sử, kinh tế, chính trị và xã hội liên quan tới việc truyền giáo và tới Giáo hội, đánh giá những yếu tố ấy dưới ánh sáng của lý luận Mác-Lê. Kết quả là người Cộng sản Việt Nam có một hình ảnh không mấy sáng sủa về Kitô giáo. Họ thấy rằng hình ảnh mà Các-Mác đã phác họa về tôn giáo đã ứng nghiệm trong thực tế Việt Nam với nét nổi bật là sự liên hệ với đế quốc. Chúng tôi nêu lên sự kiện này không phải vì mặc cảm tội lỗi, nhưng để thấy tầm quan trọng của nó đối với Giáo hội Công giáo. Người Cộng sản không muốn tranh luận lý thuyết, chỉ muốn thấy thực tế. Vậy thì Kitô hữu phải trình bày một khuôn mặt mới của Đức Kitô và Giáo hội”.
 
Ngày nay khi đọc lại nhận định này ít nhất chúng ta cũng ghi nhận đây là sự chấm hết của “não trạng Hố Nai” vốn tồn tại dai dẳng trong giới Công giáo trước 1975 khi  buộc tội người Công giáo tam vô (không gia đình, không tổ quốc, không tôn giáo). Nhưng cũng phải nói rằng, ở thập kỷ 70-80, khi cục diện chiến tranh lạnh vẫn tồn tại, thì cuộc đối thoại Cộng sản - Công giáo vẫn không mấy thuận lợi[18]. Dù sao cái nhìn của TGM Nguyễn Văn Bình cũng khiến người Công giáo bước đầu có thể an tâm để sống đạo, nghiệm sinh trong “môi trường mácxít”.
 
Thứ hai, với quan điểm đúng đắn, không có sự lựa chọn nào khác với người Công giáo Việt Nam phải ở lại giữa đời, phải hội nhập vào xã hội mới - nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam - theo tinh thần của thánh Phaolô “Do Thái với người Do Thái, Hy Lạp với người Hy Lạp”, từng bước hướng người Kitô hữu Việt Nam vào môi trường XHCN còn đầy xa lạ, nghi ngại.
 
Luận đề này được TGM Nguyễn Văn Bình đưa ra nhiều lần xung quanh chủ đề “thái độ của người Kitô hữu ở Việt Nam”. Trên cơ sở tinh thần Hiến chế Vui mừng và Hy vọng của Công đồng Vatican II, xác lập đường hướng Hợp tác với “chế độ mácxít đã được thiết lập”, kiên quyết không để tình trạng “Ghetto để sống bên lề xã hội”. Người Công giáo hoàn toàn có thể sống trong môi trường ấy và “cùng với người Cộng sản xây dựng xã hội mới”.
 
Nhưng bắt đầu hành trình đó như thế nào và giải quyết mối quan hệ giữa Đạo và Đời ra sao trong môi trường CNXH. Tác giả cũng đã thấy được tính phức tạp mấu chốt, cản bản và còn kéo dài là: “Bước chân của chúng tôi là dứt khoát nhưng vấn đề căn bản vẫn tồn tại: làm sao chung sống, chung xây với người cộng sản mà vẫn là Kitô hữu và đem lại phần đặc thù của mình vào trong cuộc xây dựng này? Trên phương diện mục vụ, những vấn đề phát sinh từ hoàn cảnh mới này vượt quá sức chúng tôi nếu nhìn theo con mắt loài người. Các tín hữu cũng như chính những người đang có trách nhiệm mục vụ hôm nay chưa được chuẩn bị để sống trong xã hội mácxít. Chúa Thánh thần vẫn đang hoạt động, nhưng chúng tôi phải hợp tác với Ngài”.
 
Lẽ dĩ nhiên, TGM Nguyễn Văn Bình cũng không e ngại bộc lộ những băn khoăn, thậm chí “nỗi sợ” có thực của không ít người Công giáo Việt Nam trong bước đầu chung sống với chế độ mới. Nhưng ở Ngài lại có những ứng xử, ngôn xứ rất đời (chất Nam Bộ), mà trong số những khó khăn ấy, như công tác mục vụ và giáo dục của bản thân Giáo hội là vấn đề giảng dạy giáo lý trong môi trường XHCN[19].
Người Công giáo thành phố Hồ Chí Minh chắc hẳn ai cũng nhớ về những chứng từ dấn thân của Ngài lúc đó như quyết định cho thành lập các ban “mục vụ kinh tế mới” và “lao động sản xuất” ngay tại Tòa Tổng giám mục, bản thân Ngài đã nhiều lần tham gia các đợt lao động tại Củ Chi cùng với linh mục tu sĩ giáo dân của mình. Thậm chí, TGM cũng không e ngại khuyến khích đoàn chiên của mình học tập chính trị, hăng say lao động sản xuất, thậm chí khuyên nhủ các linh mục nên học thêm...một nghề lao động để kiếm sống khi cần thiết...
 
Thứ ba, TGM Nguyễn Văn Bình với tư cách là một trong những người “thiết kế” Thư chung 1980, đã đặt nền móng cho đường hướng xây dựng một Giáo hội đồng hành với dân tộc; canh tân, hòa giải và hòa hợp; đối thoại và hợp tác, điều mà ngày hôm nay chính Giáo hoàng Bênêđictô XVI tái khẳng định và cổ vũ Giáo hội Công giáo Việt Nam.
 
Mặc dù chưa thể đi sâu vào những mệnh đề thần học căn bản, những luận điểm chủ yếu của Học thuyết Xã hội Công giáo, nhưng những suy tư của Đức TGM Nguyễn Văn Bình vào thời điểm lịch sử ấy vẫn có ý nghĩa “tiên tri” như nhận xét của nhiều trí thức Công giáo, các giáo sĩ như trường hợp Lm Nguyễn Hồng Giáo. Chúng tôi muốn nhấn mạnh, trường hợp bài Phúc Âm, một động lực tuyệt hảo để sống tinh thần Xã hội chủ nghĩa (phát biểu tại cuộc họp Liên Tu sĩ, ngày 4-6-1976). Ngài nhắc nhở cộng đoàn Công giáo và giới tu sĩ, đường hướng Canh tân và Hòa giải, Đối thoại và Hòa hợp dân tộc, mà Giáo hội đã lựa chọn từ năm 1975, cần phải coi đó “vừa là một đòi hỏi của dân tộc, đất nước, đồng thời cũng là đòi hỏi của Tin Mừng”.
 
Hơn thế nữa, Ngài đã mạnh dạn khẳng định xuất phát điểm có tính thần học và xã hội ấy: “Dân ta bắt đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tinh thần của chủ nghĩa xã hội là lấy sự tương thân tương ái phục vụ cộng đồng thay thế cho sự tham lam bừa bãi để hưởng thụ riêng tư, lấy sự phục hồi phẩm giá con người và giá trị đúng đắn của lao động để thay thế cho những cơ cấu bất công và bóc lột. Kitô hữu chúng ta phải thấy rằng mình có thể tìm được trong TIN MỪNG CỦA CHÚA MỘT ĐỘNG LỰC TUYỆT HẢO ĐỂ SỐNG TINH THẦN ẤY”.
 
Những tư tưởng thần học như thế của Ngài, nói cho đúng là sự vận dụng sáng tạo đường hướng mà Công đồng Vatican II đã chỉ ra, nhưng nó lại chứa đựng bao điều mới mẻ trong điều kiện đặc biệt của Giáo hội Công giáo Việt Nam. Ngày hôm nay đối chiếu những suy tư thần học ấy vẫn còn nguyên giá trị khi không ít người Công giáo Việt Nam còn day dứt: “khá nhiều lần trong quá khứ mối tương quan giữa Giáo hội và Nhà nước ở Việt Nam đã rơi vào tình trạng bế tắc, căng thẳng, xung đột, bạo động... Có những lúc người Công giáo Việt Nam hình như không còn cơ hội chọn cái tốt hơn, mà hầu như đành phải chọn cái ít xấu hơn giữa những giải pháp nghiệt ngã. Có những lần hoàn cảnh cũng không cho phép người Công giáo đảm nhận đồng thời vai trò “công dân trần thế” và “công dân Nước trời”, mà phải bó buộc phải chọn lựa một trong hai”[20].
 
Đường hướng mà TGM Nguyễn Văn Bình đã lựa chọn chắc hẳn đã góp phần giúp Giáo hội Công giáo Việt Nam khắc phục nghịch lý ấy.
Chúng ta đang nói về TGM Nguyễn Văn Bình - con người của những bước ngoặt lịch sử. Thời cuộc, bối cảnh lịch sử của Giáo hội Công giáo Việt Nam và biết bao nhân tố chủ quan khách quan khác đã khiến cho việc đánh giá con người ấy đôi khi cũng không thể “cái quan định luận” (chỉ có thể phán định về con người khi họ đã qua đời). Tính đa diện, phức tạp của vấn đề cũng như cuộc đời phong phú của người mục tử lớn này cũng vậy. Một tư liệu của báo chí tôn giáo thế giới, ngay khi Ngài đau yếu trên giường bệnh đã bình luận: “Người Việt Nam di tản gọi Ngài là Giám mục đỏ, vì ngài là một trong những vị Giám mục Việt Nam đầu tiên trong thời kỳ chiến tranh lạnh, đã cổ vũ sự thân thiện và hợp tác với chế độ cộng sản Hà Nội. Đối với những người Công giáo ở lại trong nước, Đức Cha Phaolô Nguyễn Văn Bình là biểu tượng cho một sự “thỏa hiệp không thể tránh được” mà Giáo hội Việt Nam phải chấp nhận sau khi Sài Gòn sụp đổ ngày 30-4-1975. Một linh mục Việt Nam nhắc nhở: “Phải có một người đứng ra kêu gọi hòa hợp, cho dù có khó khăn đi nữa... Và ngài đã là con người ấy...”[21].
 
Kết luận
 
TGM Nguyễn Văn Bình rõ ràng là một nhân vật lịch sử của Giáo hội Công giáo Việt Nam và lịch sử dân tộc thời hiện đại. Qua hai thời điểm lịch sử có tính bước ngoặt với lịch sử Giáo hội cho thấy rằng, người mục tử ấy thực sự đã có những đóng góp tiêu biểu cho việc lựa chọn và khẳng định đường hướng Công giáo đồng hành với dân tộc và bước đầu thích ứng với chủ nghĩa xã hội. Đường hướng Hòa giải và Hòa hợp, Đối thoại và Hợp tác theo tinh thần của Công đồng Vatican II (1962-1965), cũng là sự triển khai những sứ điệp của Tòa thánh, đồng thời cũng là sự sáng tạo của một thế hệ những đấng bậc, những tu sĩ, giáo dân cấp tiến đã góp phần quyết định tạo nên sự ổn định, bước đầu hội nhập gắn bó với Dân tộc từ sau biến cố 1975 đến nay.
 
Thứ nhất, ngày nay nhìn lại đường hướng Hội nhập - Canh tân - Hòa giải của TGM Nguyễn Văn Bình trong những thời điểm lịch sử quan trọng của đất nước chúng ta vẫn thấy nó còn nguyên giá trị. Đường hướng mà những nhân vật cấp tiến trong Giáo hội tiêu biểu như trường hợp TGM Nguyễn Văn Bình đã dày công vun đắp và vẫn luôn có ý nghĩa với Giáo hội và Dân tộc hôm nay. Tuy thế, hôm nay dường như có những tiếng nói “xét lại” đường hướng ấy. Cần có những cảnh báo cần thiết mà hai phía Đạo - Đời từ góc độ của mình khắc phục, tuyệt đối tránh sự lây lan của nó.
 
Thứ hai, chúng tôi cũng nghĩ rằng những di sản thần học và đường hướng phụng vụ của TGM Nguyễn Văn Bình là điều ngày hôm nay vẫn tiếp tục phải đào sâu suy nghĩ phát huy nó trong hoàn cảnh mới. Để nghiên cứu sâu và toàn diện những cơ sở về thần học và giáo huấn xã hội của đường hướng ấy trước hết đó phải là công việc của chính giới nghiên cứu, giới tri thức trong Giáo hội chưa nói là những nỗ lực chung của giới tôn giáo học nước nhà. Đành rằng, một trong những ngọn nguồn của những tư tưởng mới về thần học và giáo huấn xã hội ấy bắt nguồn từ dấu ấn cách mạng của Công đồng Vatican II nhưng nó cũng là những suy tư, đóng góp, sáng tạo của chính những người Công giáo Việt Nam cấp tiến, tiến bộ và sâu đậm tình tự dân tộc.
 
Thứ ba, mặt khác, chưa bao giờ như hôm nay bài học về con người và tư tưởng, Đạo và Đời của nhân vật yêu mến của chúng ta để lại còn thể hiện ở chỗ cần phải tạo ra rộng rãi hơn nữa xu thế đối thoại giữa Đạo và Đời, Nhà nước và Giáo hội. Dường như ở nước ta từ trước đến nay điều này chưa trở thành một thói quen, thậm chí một hình thức cần thiết trong sinh hoạt chính trị - xã hội thời hiện đại. Cả hai phía Đạo và Đời cần có những nỗ lực để tạo điều kiện cho xu thế này hiện hình và vận hành theo những chiều hướng tích cực góp phần cởi gỡ những vướng mắc mà cái đích của nó không có gì khác hơn là việc củng cố và khẳng định, cũng như với mọi tôn giáo của nước Việt thân yêu, Giáo hội Công giáo Việt Nam ngày càng có khả năng thích ứng hội nhập và đồng hành với CNXH như chính sự mong mỏi của TGM Nguyễn Văn Bình.
 
Để kết thúc bài viết, chúng tôi muốn được khẳng định thêm rằng, Đức TGM Nguyễn Văn Bình không chỉ là một nhân vật của những thời điểm lịch sử quan trọng, hơn thế nữa, Ngài còn là mẫu nhân vật mà ngày hôm nay, cả Đạo và Đời vẫn cần thiết sự có mặt.
 
GS.TS Đỗ Quang Hưng
(Nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu Tôn giáo)


[1] Năm 1995, khi TGM Nguyễn Văn Bình qua đời, Công giáo và Dân tộc có làm tập san Đức Tổng Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình với nhiều tư liệu quý.
[2] Xem phần viết của C.Prudhomme và J.F.Zorn, Des chrítianismes trés minoritaires dans une Asie démographiquement dominante, trong bộ sách L’ Histoire de Christianisme, t.13, Paris, 2002, p.657.
[3] Thiện Cẩm: Đức Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình với Thư chung 1980. Đức TGM Phaolô Nguyễn Văn Bình. Tham luận tại Hội thảo 40 năm Thư Chung của HĐGMVN tại Viện Nghiên cứu Tôn giáo, 28/6/2010. Cần nói thêm rằng, sự kình địch tôn giáo và chính trị này còn gay gắt với các giám mục khác như Phạm Ngọc Chi, Lê Hữu Từ, Nguyễn Văn Hiền... Tờ France-Soir, số ra ngày 29/11/1955 có thuật lại việc cha Nguyễn Văn Hiền được tấn phong TGM địa phận Sài Gòn, đã gây nên phản ứng quyết liệt của gia đình Tổng thống Ngô Đình Diệm khi viết: “Người ta đã làm tất cả nhằm hủy bỏ quyết định của Vatican... Bản thân GM Hiền khi nói về ông Diệm đã dùng đến những từ như “rút phép thông công”...” (xem Nguyễn Khắc Viện trong cuốn Miền Nam từ sau Điện Biên Phủ, bản dịch, Nxb Tri Thức, 2008, tr.202-203).
[4] Giáo phận Sài Gòn đầu thập kỷ 60, không kể 2 giáo phận Đà Lạt và Mỹ Tho được tách ra, là một giáo phận lớn nhất lúc đó: với 27 giáo hạt, 263 họ đạo chính, 284 họ đạo lẻ, 583 linh mục triều, 125 linh mục dòng, 567.455 giáo hữu (xem Niên giám Giáo hội Công giáo Việt Nam 1964, Sài Gòn, 1964, tr.313-314). Xin nói thêm, trong Sắc chỉ V.Nostrorum, ngày 24/11/1960 của Giáo hoàng Gioan XXIII, có nói, tất cả các giáo phận ở Việt Nam, kể cả 3 giáo phận mới được thành lập là Đà Lạt, Mỹ Tho, Long Xuyên “từ nay đều do Giáo sĩ triều Việt Nam quản nhậm”.
[5] Bản thân GM Nguyễn Văn Bình trước khi về nhậm chức Giáo phận Sài Gòn, ngày 2-4-1961 đã có công lớn khi sắp đặt đời sống bình thường hoá cho hơn nửa triệu người Công giáo di cư; GM cũng là người quan tâm hạn chế những đố kị giữa người Công giáo Nam và Bắc, tạo nên những họ đạo pha trộn vùng miền, dòng tu, hội đoàn, cho tới các trường tư thục Công giáo. Không những là người Công giáo miền Nam yêu nước thiết tha mà GM Nguyễn Văn Bình cũng sớm là người nổi tiếng khi tham gia đoàn GM Việt Nam đi dự Công đồng Vatican II với những kiến nghị độc đáo lúc đó: dùng tiếng Việt trong thánh lễ, đổi mới cơ cấu sinh hoạt mục vụ ở địa phương, hội nhập văn hoá dân tộc (xem “Thỉnh nguyện thư của tín hữu Việt Nam”).
[6] Cũng trong bài viết nói trên của Lm Thiện Cẩm, tác giả có nhận xét rằng, với những hoạt động phong phú thiết thực như trên, Đức Tổng Nguyễn Văn Bình đã là người “dọn đất sẵn sàng, đón lúa trổ bông” (TV 65,10), đồng thời Gm cũng là người tạo ra “những thửa ruộng ươm giống cho Thư Chung 1980”.
[7] Xem cuốn Lm Nguyễn Hồng Giáo, OFM, Một chặng đường Giáo hội Việt Nam, Học viện Phanxicô, 2008, tr. 153-154, lưu hành nội bộ.
[8] Prudhomme et J.F.Zorn: “Des christianisme très minoritaires dans une Asie démographique dominante”, trong cuốn L’histoire du Christianisme, tome 13, Paris, 2002, p.672.
[9] Prudhomme et J.F.Zorn: sđd, tr. 669.
[10] Lm Chân Tín: Giới Công giáo trước vấn đề thống nhất đất nước và tiến lên chủ nghĩa xã hội, Tạp chí Đứng dậy, số 82, 30-4-1976.
[11] Xem bài Đỗ Quang Hưng, Công giáo và Dân tộc ở nước ta trong bối cảnh đất nước quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, trong cuốn Một chặng đường nghiên cứu lịch sử, Nxb Thế giới, Hà Nội, 2006, tr.822.
[12] Xem cuốn Đức Tổng Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình, 1995, tư liệu đã dẫn, tr.38.
[13] Xem Đức Tổng giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình, sđd, tr.41.
[14] Mới đây có bài Sự nghiệp đoàn kết dân tộc của Đức cố TGM Phaolô Nguyễn Văn Bình của Nguyễn Đình Đầu, Công giáo và Dân tộc, tuần san số 1772, trong đó tác giả đã cung cấp thêm nhiều tư liệu mới mẻ về những hoạt động cúa nhóm báo sống Đạo (1962), tổ chức Thanh lao công và các nhóm “Công giáo tiến bộ” ở miền Nam lúc đó trong quan hệ với TGM Nguyễn Văn Bình.
[15] Một giáo sư Sử học, Giáo hội Công giáo ở Việt Nam từ 1975 đến nay, Nxb Calgary, Canada, 2000, tr.46-47.
[16] Trong cuốn Histoire du Christianisme, sđd, tr.671.
[17] Ngày 17-1-1980 Ủy ban này ra mắt với 53 thành viên, phần lớn là linh mục và tu sĩ, nó chính là cơ sở để năm 1983 Ủy ban này chuyển thành Ủy ban đoàn kết Công giáo TPHCM hiện nay. TGM Nguyễn Văn Bình không chỉ ủng hộ tổ chức này về đường hướng mà còn có những quan hệ đặc biệt với những nhân vật chủ chốt của Ủy ban như trường hợp Lm Võ Thành Trinh, để cụ thể hóa đường hướng hoạt động của nó. Điều này thể hiện tập trung trong bài Đã đến lúc chúng ta không thể lưỡng lự được nữa, phát biểu tại cuộc họp trù bị thành lập UBVĐCGTP, ngày 9-1-1980, trong đó có câu: “Sở dĩ lúc đầu tôi chưa thể tán thành việc chúng ta thành lập Ủy ban Liên lạc Công giáo ngay được là vì trong quá khứ, do một số bất đồng, Tổ quốc này chưa được sự ủng hộ hoàn toàn của giới Công giáo và hàng giáo phẩm ngoài Bắc... Tuy nhiên, tôi muốn nói là hôm nay tôi tới đây nghĩa là tôi không chống đối, tôi không do dự mà trong những điều kiện tốt, có thể được, bao giờ tôi cũng nâng đỡ tổ chức này. Tôi muốn nâng đỡ là vì muốn nhắm đến tinh thần dân tộc và lòng yêu quê hương, Tổ quốc”.
[18] Nếu chúng ta đối chiếu với quan điểm hôm nay chẳng hạn của Andrew Collier trong cuốn Christianity and Marxism, Routledge, London, 2001, thì chúng ta thấy rõ khoảng cách này. Tác giả một mặt cho rằng trong xã hội hiện đại “chính Kitô giáo và chủ nghĩa Mác có nhiều điểm chung hơn so với chủ nghĩa tự do (Liberalism) hoặc chủ nghĩa phi tôn giáo mới (Neo - Paganism) là những khuynh hướng gần gũi với xã hội tư bản công nghiệp”. Đồng thời tác giả cũng cho rằng để cuộc đối thoại hôm nay có hiệu quả hơn “những người mácxít nên học niềm tin và người Kitô giáo nên học “chủ nghĩa cộng sản”.
[19] Xem bài Tiểu sử Đức Tổng giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình (1910-1995) của Phạm Ngọc Trản, trong cuốn Đức Tổng Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình, tư liệu đã dẫn, tr.11. Năm 1977, tham luận tại Đại hội Giám mục thế giới, TGM Nguyễn Văn Bình hóm hỉnh kết luận “ai thấy mình có đủ khả năng trình bày giáo lý bằng ngôn ngữ mácxit, làm ơn chỉ giúp chúng tôi”.
[20] Xem Hội đồng Giám mục Việt Nam - Ủy ban Văn hóa, Suy nghĩ mục vụ về tương quan giữa Giáo hội với Nhà nước, trong cuốn Dấu ấn 350 năm Giáo hội Công giáo Việt Nam, Nxb Phương Đông, 2010, tr.448.
[21] Xem bài của Richard Werkly: Những vị Giám mục “gây tai tiếng”, Actualité Religieuse dans de Monde, số 130, tháng 2-1995. Dẫn lại của Nguyễn Thanh Long, Người đã được giao vào giữa những bối cảnh lịch sử và xã hội khó khăn để xây dựng hòa giải và hòa bình, Công giáo và Dân tộc, số 1772, tuần lễ từ 27/8 - 2/9/2010.
Tổng Giám mục Phao lô Nguyễn Văn Bình nhân vật của những thời điểm lịch sửNhập đề           Cuộc đời của Tổng Giám mục Nguyễn Văn Bình, từ đời sống linh đạo, đời sống mục vụ và vị chủ chăn cho đến đời sống của một người hoạt động chính trị - xã hội trải dài một đoạn lịch sử quan trọng của Giáo hội Công giáo Việt Nam thời hiện
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
Về việc đăng ký hoạt động và công nhận tổ chức tôn giáo
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong các văn bản pháp luật quốc tế và sự tương thích của pháp luật Việt Nam
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, bản sắc văn hóa của người Việt
Đạo Tin lành ở Việt Nam một cái nhìn tổng quát
Nghị quyết H.Res.20 của Hạ viện Mỹ - một sự phản ánh sai lệch tình hình tôn giáo tại Việt Nam.
Mùa Noel: Đọc thư chúc mừng Giáng sinh gửi đồng bào Công giáo của Hồ Chủ tịch
Vài nét phân tích cách chắp tay và lạy của đạo Cao đài
Tư tưởng Thiền của Tuệ Trung Thượng Sỹ ảnh hưởng tới Thiền Phái Trúc lâm Việt Nam
Tìm hiểu về phẩm vị chức sắc trong đạo Cao đài
Tìm hiểu cơ bản về Islam (Hồi giáo)
Video
Toàn văn bài phát biểu của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc tôn giáo có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Bài phát biểu của Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ Vũ Chiến Thắng tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Hình ảnh
Chiêm ngưỡng ngôi đền trên vách thủy tinh - 'kỳ quan nhân tạo' độc đáo Thái Lan
Lễ Sene Đolta của đồng bào Khmer
Một số hình ảnh của Đoàn Ủy ban Trung ương Mặt trận Lào xây dựng đất nước tại tỉnh Hà Nam, và tỉnh Quảng Ninh
Audio
Ông Bùi Thanh Hà, Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ trao đổi về vấn đề dâng sao giải hạn đang diễn ra tại một số chùa
Phỏng vấn Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Cần Thơ về công tác tuyên truyền, phổ biến Luật tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định 162/2017/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo tại địa phương


BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Đường Dương Đình Nghệ, P. Yên Hòa,Q. Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 0243 8 248 673 . Fax: 08041313
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn



Người chịu trách nhiệm chính: TS.Bùi Thanh Hà 
Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ

Đơn vị quản lý: Trung tâm Thông tin,
Ban Tôn giáo Chính phủ

Email:ttttbantongiao@chinhphu.vn