Ấn phẩm sách
Sách khảo cứu diện mạo 100 ngôi đình Việt Nam tái bản lần ba
Hạnh phúc tùy cách nhìn
Lời Phật dạy đối nhân xử thế
Từ điển tôn giáo
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?













Chọn    Xem KQ
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong các văn bản pháp luật quốc tế và sự tương thích của pháp luật Việt Nam

        Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của con người, thuộc nhóm quyền dân sự và chính trị, được ghi nhận trong pháp luật quốc tế về quyền con người cũng như trong pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới. Liên hợp quốc đề cao và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong Tuyên ngôn về nhân quyền năm 1948 và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966. Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều ghi nhận và bảo đảm thực hiện quyền này trong hệ thống pháp luật của mình.

           1. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong pháp luật quốc tế 

Xét về nguồn gốc, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ra đời khá sớm trong lịch sử loài người. Trong lịch sử thời kỳ cổ đại, trung đại hay các chế độ quân chủ phong kiến đều dựa trên một tôn giáo chính thống để làm nền tảng ổn định xã hội. Trong khi đó, vấn đề bạo lực, khủng bố, kết tội tôn giáo hoặc chiến tranh tôn giáo vẫn không ngừng diễn ra. Vì vậy, nhu cầu lớn đầu tiên trong quyền tự do tôn giáo với rất nhiều quốc gia là nhu cầu mỗi cá nhân có thể đi theo một tín ngưỡng, tôn giáo riêng hay thay đổi tôn giáo mà không sợ bị chính phủ phạt tội hoặc các “tôn giáo chính thống” trả thù.

 

Quan niệm về tự do tôn giáo được hình thành ở châu Âu gắn liền với các cuộc cách mạng tư sản thế kỷ XVII - XVIII. Nhà tư tưởng John Locke đã đặt nền móng cho quyền tự do tôn giáo khi cho rằng, tôn giáo là vấn đề của cá nhân hơn là của xã hội. Vai trò của nhà nước không phải là khuyến khích phát triển tôn giáo mà là bảo vệ quyền của mỗi cá nhân có thể sở hữu niềm tin tôn giáo của chính mình và cách tốt nhất là hãy để cá nhân mỗi người tự lựa chọn tôn giáo cho mình.

 

Trong tiến trình vận động của lịch sử, quan niệm về tự do tôn giáo dần dần trở nên hoàn thiện hơn. Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ năm 1776 đã đề cập đến tự do, song chưa nói cụ thể về tự do tôn giáo. Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp năm 1789 đã nói đến tự do cá nhân, tự do tư tưởng, tự do tôn giáo, song cũng chưa đề cập một cách cụ thể: “Mỗi người đều được phát biểu tư tưởng tự do, về tôn giáo cũng vậy, miễn là những tư tưởng phát biểu đó không làm tổn thương đến nền trật tự công cộng đã được pháp luật ấn định phân minh”. Luật Phân ly nổi tiếng của nước Pháp năm 1905 cũng đề cập đến vấn đề tự do thờ cúng.

 

Như vậy, cho đến đầu thế kỷ XX, quan niệm về tự do tôn giáo mới chỉ mang tính quốc gia riêng lẻ, cho đến khi Liên hợp quốc thông qua Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền ngày 10-12-1948, thì tự do tôn giáo mới trở thành một quyền mang tính quốc tế.

 

Trên phạm vi quốc tế, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được ghi nhận trong một số văn bản chính trị bao gồm các văn bản mang tính chất tuyên ngôn như: Hiến chương của Liên hợp quốc năm 1945, Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948; các văn bản mang tính chất pháp lý như: Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966. Trong đó, Hiến chương của Liên hợp quốc và Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền là những văn bản tuy không có tính ràng buộc pháp lý, nhưng có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định các nguyên tắc và định hướng đạo lý, chính trị của quyền con người nói chung, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo nói riêng. Công ước là văn bản có tính ràng buộc pháp lý, bao gồm các nội dung cụ thể về quyền con người và các quốc gia thành viên chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế đối với văn kiện này. Theo đó, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong pháp luật quốc tế bao gồm các nội dung: tự do có, theo hoặc thay đổi một tôn giáo hay tín ngưỡng do mình lựa chọn; tự do bày tỏ tín ngưỡng hoặc tôn giáo một mình hoặc trong cộng đồng với những người khác, công khai hoặc không công khai dưới các hình thức như thờ cúng, cầu nguyện, thực hành và truyền giảng.

 

- Hiến chương của Liên hợp quốc, 1945, tại phần mở đầu, đã tuyên bố: “Khẳng định một lần nữa sự tin tưởng vào những quyền cơ bản, nhân phẩm và giá trị của con người, vào quyền bình đẳng giữa nam và nữ,...” [7, tr. 128]. Khoản 3, Điều 1 (Chương I) đã đề cập đến nội dung quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo hướng “khuyến khích phát triển sự tôn trọng các quyền của con người và các tự do cơ bản cho tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ hoặc tôn giáo” [7, tr. 132]. Điều 55, Mục c (Chương IX, Hợp tác quốc tế về kinh tế và xã hội) ghi nhận Liên hợp quốc khuyến khích: “Sự tôn trọng và tuân thủ triệt để các quyền và tự do cơ bản của tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ hay tôn giáo” [7, tr. 138].

 

- Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền, 1948 (The Universal Declaration of Human Rights - UDHR) được Đại Hội đồng Liên hợp quốc thông qua công bố theo Nghị quyết số 217A (III) ngày 10-12-1948, gồm Lời nói đầu và 30 điều. Lần đầu tiên, Đại Hội đồng Liên hợp quốc có một văn bản tuyên ngôn chính thức về nhân quyền, tạo cơ sở để Liên hợp quốc cụ thể hoá thành các công ước mang tính chất pháp lý bắt buộc đối với các quốc gia thành viên trong việc bảo đảm, bảo vệ quyền con người nói chung, các quyền về dân sự, chính trị nói riêng trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

 

Trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được ghi nhận trong Điều 18 như sau: Mọi ngưi đu có quyn t do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo, k cả t do thay đổi tín ngưỡng hoc tôn giáo của mình, và t do bày tỏ tín ngưỡng hay tôn giáo của mình bằng các hình thức như truyn giảng, thc hành, th cúng và tuân thủ các nghi l, dưới hình thức cá nhân hay tập th, tại nơi công cộng hoc nơi riêng tư [6, tr. 240, 241]. UDHR đã kế thừa và phát triển tư tưởng về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong Tuyên ngôn độc lập của Mỹ năm 1776 và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp năm 1789. Điểm phát triển ở đây là UDHR quy định về quyền này cụ thể và chặt chẽ hơn.

 

Để thực hiện được các quyền con người trong lĩnh vực dân sự, chính trị, xã hội, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, UDHR đã xác định các bảo đảm như tôn trọng và thực thi các nguyên tắc quan trọng nhất trong việc bảo vệ quyền con người: Mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và các quyền” (Điều 1); “Mọi người đều được hưởng tất cả các quyền và tự do nêu trong bản Tuyên ngôn này không bất kỳ sự phân biệt, đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo,…” (Điều 2) [6, tr.236, 237]; Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng mà không có bất kỳ sự phân biệt nào. Mọi người đều có quyền được bảo vệ một cách bình đẳng chống lại bất kỳ sự phân biệt đối xử nào vi phạm bản Tuyên ngôn này, và chống lại bất kỳ sự kích động phân biệt đối xử nào như vậy (Điều 7) [6, tr. 238].

 

Tuy nhiên, UDHR cũng đề cập đến những giới hạn trong việc thực hiện quyền t do tín ngưỡng, tôn giáo tại Điều 29, theo đó, có thể hiểu rằng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo không phải là quyền tuyệt đối, mà là quyền có thể bị giới hạn. Cụ thể:

 

“1. Mọi người đều có những nghĩa vụ đối với cộng đồng, là nơi duy nhất mà ở đó nhân cách của bản thân họ có thể phát triển tự do và đầy đủ. 2. Khi hưởng thụ các quyền và tự do của mình, mọi người chỉ phải tuân thủ những hạn chế do luật định, nhằm mục đích bảo đảm s công nhận và tôn trọng thích đáng đối với các quyền và t do của người khác, cũng như nhằm đáp ứng những yêu cu chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ. 3. Trong mọi trường hợp, vic thc hiện các quyn t do này cũng không đưc trái với các mục tiêu và nguyên tắc của Liên hợp quốc.” [6, tr. 244].

 

- Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, 1966 (The International Covenant on Civil and Political Rights - ICCPR) được thông qua và để ngỏ cho các quốc gia ký, phê chuẩn và gia nhập theo Nghị quyết của Đại hội đồng Liên hợp quốc số 2200 (XXI), ngày 16-12-1966, có hiệu lực từ ngày 23-3-1976. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được quy định với bốn nội dung cụ thể, trong đó nội dung thứ nhất quy định gần giống với Điều 18 của bản UDHR. Nhưng khái niệm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong ICCPR được ghi nhận cụ thể hơn tại Khoản 1, Điều 18:“Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng và tôn giáo. Quyền này bao gồm tự do có hoặc theo một tôn giáo hoặc tín ngưỡng do mình lựa chọn,tự do bày tỏ tín ngưỡng hoặc tôn giáo một mình hoặc trong cộng đồng với những người khác, một cách công khai hoặc kín đáo dưới các hình thức như thờ cúng, cầu nguyện, thực hành và truyền giảng [24, tr. 242].

 

Ngoài ra, trong ICCPR, khái niệm về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo còn được bổ sung thêm ba nội dung, làm cho quan niệm về quyền này rõ ràng và đầy đủ hơn, đó là: không ai bị ép buộc làm những điều tổn hại đến quyền tự do lựa chọn hoặc tin theo tôn giáo hoặc tín ngưỡng của họ (Khoản 2, Điều 18); Quyền tự do bày tỏ tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật và khi sự giới hạn đó là cần thiết để bảo vệ an ninh, trật tự công cộng, sức khoẻ hoặc đạo đức xã hội, hoặc để bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của người khác (Khoản 3, Điều 18); Các quốc gia thành viên Công ước cam kết tôn trọng quyền tự do của các bậc cha mẹ, và của những người giám hộ hợp pháp nếu có, trong việc giáo dục về tôn giáo và đạo đức cho con cái họ theo ý nguyện của riêng họ (Khoản 4, Điều 18) [6, tr. 280].

 

Bốn nội dung của quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo thể hiện tại Điều 18 của ICCPR gắn kết với nhau trong mối tương quan mật thiết, vừa nói lên được tính phổ quát của quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, vừa “để ngỏ” cho những quốc gia với những đặc thù riêng có thể thực hiện được. Vì vậy, tính khả thi trong hiện thực của nó rất cao.

 

Cho đến nay, nhìn tổng quát, đối với quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đã được các văn bản pháp lý quốc tế quy định như sau:

 

1. Tuyên bố sự tồn tại của quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo;

 

2. Mọi người được thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo một cách công khai một mình hay trong cộng đồng;

 

3. Nghiêm cấm sự phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo.

 

Tuy nhiên, các văn bản chính trị - pháp lý quốc tế cũng khẳng định quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo không phải là một quyền tuyệt đối, mà là một quyền có hạn. Các quốc gia có thể hạn chế việc thực hiện quyền này nếu thấy đó là cần thiết để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự xã hội, sức khoẻ đạo đức của cộng đồng, hoặc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác khỏi bị xâm hại.

 

Những hạn chế của việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được quy định trong pháp luật quốc tế được các quốc gia thành viên tuân thủ áp dụng trong pháp luật nước mình một cách triệt để. Theo đó, các loại hình tổ chức tôn giáo hoặc hoạt động tôn giáo làm ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, vi phạm đạo đức,… đều không cho phép hoạt động, thậm chí một số quốc gia còn sử dụng vũ lực để loại bỏ.

 

2. S tương thích của pháp luật Việt Nam

 

Trong điều kiện đổi mới, phát triển bền vững và hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay, việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân sẽ góp phần tạo ra động lực to lớn thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, tập hợp được quần chúng có đạo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Nhận thức được điều đó, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc bảo đảm cho cho người dân thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mình. Điu đó không những được nêu rõ ở những quan điểm, chủ trương, chính sách của ĐảngHiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật cũng quy định rõ nội dung quyền, các biện pháp bảo đảm thực hiện quyền đó cho người dân phù hợp với Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị mà Việt Nam đã ký kết gia nhập ngày 24-9-1982. Việt Nam cam kết tôn trọng và thực hiện có hiệu quả các quyền được Công ước ghi nhận bằng hoạt động lập pháp cũng như bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân trên thực tế.

 

Trong pháp luật Việt Nam, chế định quyền con người được ghi nhận trong Hiến pháp, luật và các văn bản quy phạm pháp luật khác do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền của quốc gia ban hành. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trước hết được ghi nhận tại Điều 70, Hiến pháp năm 1992, trong đó khẳng định: “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước (Điều 70)  [5, tr. 147].

 

Quy định này của Hiến pháp đưc cụ th hoá trong Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004: Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Nhà nước bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Không ai được xâm phạm quyền tự do ấy” (Điu 1) [1, tr. 7].

Hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Do đó, bên cạnh các quy định trong Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật chuyên biệt, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo còn được cụ thể hoá trong nhiều bộ luật, luật quan trọng khác của Nhà nước Việt Nam như: Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân như sau: “Cá nhân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo, hoặc lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác” [2, đ47]. Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định: Tố tụng hình sự tiến hành theo nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, nam nữ, tín ngưỡng, tôn giáo,... Bất cứ người nào phạm tội đều bị xử lý theo pháp luật.

Như vậy, có thể khẳng định rằng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân ở Việt Nam được pháp luật ghi nhận phù hợp với quy định của Công ước quốc tế v các quyn dân sự. Pháp luật Việt Nam một mặt thừa nhận và bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, mặt khác cũng đ ra những  phạm vi, giới hạn của vic thc hiện quyn đó. Căn c vào những giới hạn của quyn t do tín ngưỡng, tôn giáo quy định ở Điu 18 ICCPR, Điều 8 Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, một mặt, khẳng định: “Không được phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng; tôn giáo; vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân” [2, tr. 11]; mặt khác cũng quy định phạm vi, giới hạn của quyền ấy: “Không được lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại hoà bình, độc lập, thống nhất đất nước, kích động bạo lực hoặc tuyên truyền chiến tranh, tuyên truyền trái pháp luật, chính sách của Nhà nước, chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, chia rẽ tôn giáo; gây rối trật tự công cộng, xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, tài sản của người khác, cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; hoạt động mê tín dị đoan và thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật khác” [2, tr. 11].

Điều 15 Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo quy định: hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo bị đình chỉ nếu thuộc một trong các trường hợp sau: 1. Xâm phạm an ninh quốc gia, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật t công cộng hoc môi trường; 2. Tác động xấu đến đoàn kết nhân dân, đến truyn thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc. 3. Xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh d, tài sản của người khác; 4. Có hành vi vi phạm pháp luật nghm trọng.

Bộ luật Hình sự quy định về tội phá hoại chính sách đoàn kết trong đó có hành vi “gây chia rẽ người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, chia rẽ các tín đồ tôn giáo với chính quyền nhân dân, với các tổ chức xã hội” [3, đ87], thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm. Hoặc “người nào có hành vi cản trở công dân thực hiện quyền hội họp, quyền lập hội phù hợp với lợi ích của Nhà nước và của nhân dân, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm” [3, đ129].

Nhìn chung, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam đã thể hiện được đầy đủ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được nêu trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966. Điều 38 Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo có nêu: “Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác với quy định của Pháp lệnh này thì thực hiện theo quy định của điều ước quốc tế đó” [1, tr. 24]. Điu đó chứng tỏ s tương thích của pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế, những tiến bộ vượt bậc và những cố gắng rất lớn của Nhà nước Việt Nam trong việc tôn trọng, bảo đảm quyền con người nói chung, quyn t do tín ngưỡng, tôn giáo nói riêng trong bối cảnh Việt Nam đang trong quá trình xây dựng một Nhà nước pháp quyền, khi tình hình kinh tế, xã hội của đất nước còn nhiều khó khăn./.

Ths. Nguyễn Thị Diệu Thuý,

Ban Tôn giáo Chính phủ

Tài liệu tham khảo:

1. Ban Tôn giáo Chính phủ (2008), Văn bản pháp luật Việt Nam về tín ngưỡng, tôn giáo, Nxb Tôn giáo, Hà Nội.

 

2. Bộ luật dân sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 28/1/1995, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

 

3. Bộ luật hình sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 21/12/1999, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

 

4. Bộ luật tố tụng hình sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

 

5. Hiến pháp của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2009), NXb Lao động, Hà Nội.

 

6. Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội (2010), Hỏi đáp về quyền con người,  NXb Công an nhân dân, Hà Nội.

 

7. Chủ biên: Phạm Khiêm Ích (1998), Quyền con người các văn kiện quan trọng, Viện Thông tin khoa học xã hội, Hà Nội.

 

8. TS. Tường Duy Kiên (2006), Quốc hội Việt Nam với việc bảo đảm quyền con người, Nxb Tư pháp, Hà Nội.

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong các văn bản pháp luật quốc tế và sự tương thích của pháp luật Việt Nam1. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong pháp luật quốc tế   Xét về nguồn gốc, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ra đời khá sớm trong lịch sử loài người. Trong lịch sử thời kỳ cổ đại, trung đại hay các chế độ quân chủ phong kiến đều dựa trên một
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, bản sắc văn hóa của người Việt
Đạo Tin lành ở Việt Nam một cái nhìn tổng quát
Nghị quyết H.Res.20 của Hạ viện Mỹ - một sự phản ánh sai lệch tình hình tôn giáo tại Việt Nam.
Mùa Noel: Đọc thư chúc mừng Giáng sinh gửi đồng bào Công giáo của Hồ Chủ tịch
Vài nét phân tích cách chắp tay và lạy của đạo Cao đài
Tư tưởng Thiền của Tuệ Trung Thượng Sỹ ảnh hưởng tới Thiền Phái Trúc lâm Việt Nam
Tìm hiểu về phẩm vị chức sắc trong đạo Cao đài
Tìm hiểu cơ bản về Islam (Hồi giáo)
Tờ Khai tịnh đạo – Tuyên ngôn thành lập đạo Cao đài
Hội Phật giáo Bắc kỳ với vấn đề vàng mã
Tìm kiếm
Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Tin tức Video
Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc Vesak 2014: Hòa bình - Tử bi - An lạc
Tôn giáo Bahai'I 60 năm hình thành và phát triển ở Việt Nam
Kết quả thực hiện chỉ thị 01 về Đạo Tin lành
Hình ảnh
Chiêm ngưỡng 10 địa danh linh thiêng đẹp nhất thế giới
Ban Tôn giáo Chính phủ thanh tra chuyên ngành tại Bà Rịa Vũng Tàu
Người Việt trên thế giới tổ chức Đại lễ Vu Lan Phât lịch 2558, dương lịch 2014
Âm thanh
Phỏng vấn TS. Thượng tọa Thích Nhật Từ, Ủy viên Hội đồng Trị sự GHPGVN, Phó Ban Giáo dục Tăng Ni TƯ, Ban Hoằng pháp TƯ và Ban Phật giáo Quốc tế GHPGVN những thông tin chính về Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc 2014 tại Việt Nam
Nam Định thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về vấn đề tôn giáo và công tác tôn giáo
Phật giáo Việt Nam trong xu hướng vận động của Phật giáo thế giới



Người chịu trách nhiệm chính:
Ông Dương Ngọc Tấn
Phó trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ

Email: ttttbantongiao@chinhphu.vn
 

BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Phường Yên Hòa - Quận Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 043 8 248 763 . Fax: 08041313
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn

 

LIÊN KẾT WEBSITE KHÁC