Ấn phẩm sách
Giới thiệu sách: Văn hóa Tín ngưỡng và thực hành Tôn giáo người Việt
Giới thiệu sách: Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam
Giới Thiệu Bản Dịch Kinh Thánh Việt Ngữ 2011
Giới thiệu sách - Nghi lễ thờ cúng tổ tiên, đền chùa, miếu phủ
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?













Chọn    Xem KQ
Đạo Tin lành ở Việt Nam một cái nhìn tổng quát

Khi nói “đạo Tin lành” với đại đa số người Việt Nam hôm nay thường hiểu đó là tôn giáo của những người Kitô hữu thuộc hai Tổng hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc và miền Nam) với hai địa chỉ quen thuộc là số 2 Ngõ Trạm (Hà Nội) và 155 Trần Hưng Đạo (Quận 1 TP Hồ Chí Minh). Cũng rất đông người Việt Nam chưa hiểu được rằng, khái niệm “đạo Tin lành”, ít nhất trên phương diện pháp lý của nhà nước hiện nay, bao gồm, ngoài hai Hội thánh thuộc “Tin lành CMA”[1], còn có tới 9 hệ phái khác mà Nhà nước Việt Nam công nhận tư cách pháp nhân trong 3 năm gần đây[2].

               Bài viết này của chúng tôi chỉ đề cập đến những vấn đề lịch sử của hệ phái “Tin lành chính thống”, đông đảo nhất về số lượng tín hữu, cũng là cộng đồng Tin lành hiện diện lâu đời nhất ở Việt Nam (gần 100 năm tuổi) là Hội thánh Tin lành Việt Nam (tức C&MA), tên gọi ngắn gọn quen thuộc nhất.

Để “phục hiện” lịch sử cộng đồng Tin lành có số phận tôn giáo và xã hội khá đặc biệt này, bằng lối tiếp cận “xã hội học Tin lành” (Sociologie du Protestantisme) kết hợp với phương pháp nghiên cứu lịch sử tôn giáo, chúng tôi cố gắng phân tích những nguồn gốc, những dấu ấn lịch sử (répéres historiques); quan trọng hơn là làm rõ được những đặc điểm về thần học, về tổ chức, về đời sống tôn giáo cũng như vị thế chính trị - xã hội của cộng đồng này ở Việt Nam trước năm 1975.
Nhân 100 năm Tin lành ở Việt Nam, chắc hẳn người tín hữu dù ở hệ phái nào, kể cả những “người Tin lành không hệ phái” đều suy ngẫm về lịch sử của cộng đồng mình và hướng tới tương lai. Bài viết này cũng muốn góp một tiếng nói của một người nghiên cứu khoa học về tôn giáo.
 
I. Tin lành ở Việt Nam: những nguồn gốc và diện mạo
I.1. Giai đoạn “tiền Tin lành”: Sự xâm nhập của các “Giáo hội cải cách”[3]
Không nên bỏ qua những cứ liệu này trong lịch sử phong trào Tin lành ở Việt Nam. Phong trào cải cách Tin lành ở châu Âu từ đầu thế kỷ XVI, qua các mục sư tuyên úy hoặc các tín đồ là thương nhân người Pháp, Hà Lan, Anh trên các thương thuyền ghé qua Việt Nam ngay đầu thế kỷ XVII.
Nhân vật quen biết đầu thế kỷ XIX là Jean Baptiste Chaigneau, một trong những cố vấn cho Gia Long ở Huế, một tín đồ Tin lành[4].
Từ cuối thế kỷ XIX, Giáo hội Tin lành cải cách Pháp (Église Réformée de France), chủ yếu thuộc Tin lành Calvin, tăng cường truyền giáo ở các xứ thuộc địa trong đó có Việt Nam. Về mặt thần học, những người “Tin lành Calvin, lực lượng chủ trốt của Tin lành Phúc Âm ở Pháp được coi là năng động và tiến bộ hơn so với Tin lành Luther. Sau Hiệp ước Paternotre (1884), giới Tin lành Pháp đã cử một số mục sư đến Việt Nam làm tuyên úy cho những tín đồ Tin lành trong các cơ quan quân sự và hành chính tại Đông Dương[5].
Năm 1894, nhà thờ Tin lành đầu tiên ở Đông Dương do các mục sư người Pháp xây dựng đã xuất hiện ở Hải Phòng. Năm 1902, nhà thờ Tin lành Pháp cũng đã xuất hiện ở Hà Nội (phố Hàng Da); ở Sài Gòn (đường Norodom, nay là đường Lê Duẩn); chậm hơn một chút là ở Đà Lạt…
Chủ đích truyền giáo của giới Tin lành Pháp được triển khai khá bài bản. Năm 1918 họ thành lập Phái bộ nghiên cứu kế hoạch truyền giáo ở Đông Dương. Năm 1921, bốn thành viên của phái bộ, đứng đầu là mục sư nổi tiếng P. Monet (trong đó có hai truyền đạo người Việt Vũ Tam Thất và Đội Dương) rời Paris đến Hà Nội. Năm 1922 phái bộ của P.Monet đã thu được những kết quả ban đầu không nhỏ: thành lập Hội Sinh viên An Nam, trung tâm hoạt động sinh viên do Tin lành bảo trợ ở số 5 Vọng Đức, Hà Nội, đặc biệt cho xuất bản Tạp chí song ngữ Pháp – Việt để lôi cuốn giới trí thức trẻ ở Hà Nội[6].
Những người Tin lành Pháp thường không chủ trương truyền giáo trực tiếp mà hướng vào các hoạt động văn hóa (đề cao chữ Quốc ngữ, báo chí, văn minh và lối sống phương Tây) để truyền giáo. Phần vì thiếu tài trợ, điều kiện chính trị và pháp lý khá ngặt nghèo[7] nên tháng 7-1925, mọi hoạt động của Phái bộ Nghiên cứu nói trên đã chấm dứt. Từ đó, hoạt động của Tin lành Pháp ở Việt Nam chỉ còn duy trì trong các hoạt động mục vụ hạn chế ở Hà Nội, Hải Phòng (trước Hiệp định Giơnevơ, 7-1954) và ở Sài Gòn, Đà Lạt trước 30-4-1975, với hai mục tiêu biểu là Bertrand de Luze và Pierre Médard.
Chưa thấy có những đánh giá về những trang sử truyền giáo Tin lành của những người Pháp nói trên. Theo chúng tôi, sự thất bại của Giáo hội Tin lành cải cách Pháp ở Việt Nam chủ yếu do hai nguyên nhân sau đây:
- Thứ nhất, lý do chính trị - xã hội. Ai cũng biết vấn đề Tin lành từ lâu là một vấn đề chính trị - xã hội gay gắt ở Pháp nơi mà Giáo hội Công giáo không chỉ là “trưởng nữ” của Vatican mà còn là một thế lực trần thế lớn nhất trước và cả sau đại cách mạng tư sản Pháp (1789). Với người Tin lành Pháp, kí ức về cuộc “chiến tranh trăm năm” vẫn là nỗi ám ảnh với họ[8]. Việc e ngại của chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương với tôn giáo này đúng như nhận xét: “Cũng chính tại nơi truyền giáo, đôi khi sự kình địch giữa Công giáo và Tin lành trở nên gay gắt. Những yếu tố chính trị và ngoại giao đã rất sớm xen vào sự xung khắc và kình địch này như trong vụ Madagascar (1897), khi đoàn truyền giáo Tin lành Pháp bị nghi ngờ có thiện cảm với nước Anh, một cường quốc đối thủ”[9]. Sau này trong quan hệ với “Tin lành C&MA” cũng vậy, người Pháp thực dân luôn e ngại người Mỹ sẽ tạo chỗ đứng chân qua chính hoạt động của hệ phái này. Tương tự như vậy, việc truyền giáo Tin lành ở Trung Quốc lúc đó cũng bị coi là đồng lõa với chủ nghĩa thực dân qua các “hiệp ước bất bình đẳng”…
- Thứ hai, lý do tôn giáo. Tin lành Pháp xâm nhập vào Việt Nam nhất là các tỉnh ở Bắc Kỳ trong những điều kiện tôn giáo khó khăn khi “thị phần truyền giáo” quá chênh lệch so với Công giáo, vốn đã có mặt ở Việt Nam trên dưới 4 thế kỷ. Hơn thế nữa, lỗi truyền giáo của Tin lành Pháp, theo chúng tôi có những khiếm khuyết căn bản. Các tài liệu tuyên truyền ít ỏi của họ chưa làm nổi rõ tính chất cách mạng, trước hết về thần học của đạo Tin lành với ba khẩu hiệu lớn: Chỉ có Thiên Chúa (Dieu seul); Chỉ có Kinh thánh (L’Ecriture suel) và Chỉ có Ân sủng (La grâce seul)[10], nghĩa là những đặc trưng tư tưởng căn bản của đạo mình. Họ cũng chưa chú trọng đúng mức đến việc đào tạo nhân sự trong khi dốc mọi sức lực vào công cuộc giáo dục, hoạt động báo chí, hoạt động xã hội chủ yếu trong giới học sinh, sinh viên…
Sử gia Lê Hoàng Phu khi viết Lịch sử Hội thánh Tin lành Việt Nam, đã hoàn toàn không nói đến những trang sử truyền giáo của Tin lành Pháp, mặc dù ông nghiên cứu khá kỹ tình hình xã hội và các tôn giáo lớn ở Việt Nam đương thời. Lê Hoàng Phu có nhận định khá tinh tế mà chúng tôi nghĩ nó có liên quan đến “điểm yếu” nói trên của các mục sư người Pháp: “Các giáo sĩ đầu tiên của Tin lành tại Việt Nam đã tìm thấy một dân tộc về đạo giáo, luôn luôn khát vọng học hỏi những quan điểm mới về siêu hình học và luân lý học để đương đầu với những xã hội biến chuyển mau chóng của thời đại. Sự mở tâm trí tương đối nầy đã khiến sự gặp gỡ giữa các đại diện tôn giáo của hầu hết các đức tin được êm ái và kết quả ít hay nhiều, nhất là trong 20 năm đầu Tin Lành có mặt trong xứ”[11].
Cũng phải nói thêm rằng trong công cuộc truyền giáo, những người Tin lành Pháp và châu Âu nói chung không có lợi thế. Từ cuối thế kỷ XVIII, mặc dù ở châu Âu, trong và sau Phong trào Thức tỉnh (reveil), đã xuất hiện nhiều hiệp hội truyền giáo như: Hội truyền giáo London (1795); Hội truyền giáo Hà Lan (1795); Hội truyền giáo Bâle (1815); Hội truyền giáo Phúc âm Paris (1822); Hội truyền giáo Berlin (1824)…nhưng ở thời điểm đầu thế kỷ XX nước Mỹ đã cung cấp tới một nửa kinh phí truyền giáo (1914) và năm 1960, họ đã cung cấp tới 2/3 nguồn nhân lực[12].
Nói cho cùng, sự thất bại của giới Tin lành Pháp trong công cuộc truyền giáo ở xứ Đông Dương có nguồn gốc sâu sa từ chính lịch sử và vị thế của Tin lành Pháp ở chính quốc. Tin lành xuất hiện ở châu Âu, từ sự phân ly khỏi Công giáo La Mã, nhưng nói chung nó không thể thắng thế ở cựu lục địa, nó chỉ thắng thế và phát triển mọi chiều kích ở nước Mỹ trẻ trung và năng động, nơi mà Tin lành không chỉ giành được vị thế tôn giáo quan trọng nhất của quốc gia này mà còn trở thành một căn tính văn hóa, chính trị Mỹ.
 
I.2. Sự hình thành và phát triển “Hội thánh Tin lành Việt Nam”
Song song với hoạt động truyền giáo của những giáo sĩ Tin lành cải cách Pháp, từ cuối thế kỷ XIX, dòng truyền giáo của các giáo sĩ Mỹ, chủ yếu thuộc Hội truyền giáo Phúc âm Liên hiệp cũng được tiến hành với những bước đi có nhiều nét khác biệt. Nhưng dần dần hiệu quả truyền giáo của hai lực lượng Tin lành này lại hiện ra với xu thế trái ngược: trong khi những người Tin Lành Pháp đã thất bại và sau năm 1975, không để lại vết tích gì thì những người Tin lành Bắc Mỹ lại dần dần giành được chỗ đứng khá vững chắc.
Chỉ xin nhắc lại vài sự kiện chính lịch sử hình thành và phát triển của Hội thánh Tin lành Việt Nam dưới đây:
Những bước đi đầu tiên:
- Năm 1887: Tiến sĩ A.B.Simpson, người sáng lập HTGPALH (C&MA), đến Đông Dương và tìm cách truyền giáo đến Việt Nam.
- Năm 1893: Ms D.Lelacheur đến Sài Gòn.
- Năm 1897: Ms C.H. Reeves từ Long Châu (Trung Quốc) đến Lạng Sơn.
- Năm 1899: giáo sĩ R.A.Jaffray đến Hà Nội.
- Năm 1901: Ms Dryan đến Hải Phòng.
Nhưng cũng phải đến năm 1911 khi giáo sĩ R.A.Jaffray, P.M.Horler với sự giúp đỡ của một Truyền đạo người Pháp là Bonnet (người của Thánh kinh hội), đã mua được đất và dựng nhà thờ, làm trụ sở truyền giáo ở Đà Nẵng, được coi là dấu mốc khởi đầu thực sự của đạo Tin lành ở Việt Nam.
Giai đoạn hình thành của cộng đồng Tin lành ở Việt Nam lúc đó đương nhiên còn gặp rất nhiều khó khăn. Các giáo sĩ người Mỹ vẫn luôn bị nghi ngờ và không ít người đã bị trục xuất[13]. Có tư liệu nói rằng, năm 1915, chính quyền thuộc địa Pháp còn cấm các giáo sĩ tiếp xúc với người Việt[14]. Chính giáo sĩ Jaffray năm 1916 đã phải gặp Toàn quyền Đông Dương để giải tỏa bớt những cấm cách trong việc truyền giáo ở các “xứ bảo hộ” như ở Hải Phòng, Hà Nội, Đà Nẵng… cũng như ở Campuchia và Lào[15].
Trước năm 1927, nét nổi bật là việc các giáo sĩ C&MA tập trung nỗ lực cho việc truyền giáo theo chiều sâu, đào tạo mục sư và truyền đạo. Lớp học Kinh thánh đầu tiên “được dạy tại chuồng nuôi ngựa, sau đó mọc lên ngôi nhà thờ đầu tiên bằng tranh ở Đà Nẵng”, năm 1919. Trường Kinh Thánh Đà Nẵng, thành lập năm 1921 là một dấu mốc quan trọng khác[16].
Mặc dù năm 1927 Hội thánh mới có dưới 5000 tín hữu và 74 Chi hội nhưng Hội thánh Tin lành Việt Nam đã bắt đầu “giai đoạn tự lập, độc lập về hành chính”. Năm 1927, Ban Trị sự Tổng Liên hội ra đời trong Đại hội đồng khóa I cùng vớiHiến chương, Điều lệ Hội Tin Lành (gồm ba thứ tiếng Việt, Pháp, Hoa), được phổ biến và áp dụng.
Cho tới Cách mạng Tháng Tám (1945), Tin lành ở Việt Nam đã trải qua nhiều tên gọi phản ánh những bước tiến của nó: Hội Tin lành Đông Pháp (1927, vì có cả các Chi hội ở Campuchia và Lào), Hội Tin lành Việt Nam Đông Pháp (1936); Hội Tin lành Việt Nam (1945). Từ năm 1950 trở đi, mang tên Hội thánh Tin lành Việt Nam.
Trong giai đoạn này có một số điểm nhấn đáng chú ý về cơ cấu tổ chức: hình thức “Địa hạt” tương ứng với “ba Kỳ” theo nền hành chính thời thuộc địa; ra đời Hội đồng quản trị tài sản (1942)…
Giai đoạn 1954-1975 có vị trí đặc biệt ở chỗ, vì lý do chính trị Hội thánh Tin lành Việt Nam đã “tách biệt” làm đôi là Tổng hội miền Bắc và Tổng Liên hội miền Nam[17]. Đây là giai đoạn “trọng tâm Tin lành Việt Nam” đã hoàn toàn chuyển về miền Nam và Sài Gòn (năm 1970, Trụ sở Tổng Liên hội được kiến thiết tại 155 Trần Hưng Đạo, Quận Nhứt, Sài Gòn; cũng năm đó thành lập Nhà in Tin lành Sài Gòn). Năm 1960, Trường Kinh Thánh Đà Nẵng đã rời vào Nha Trang, gọi là Thánh Kinh thần học viện.
Đôi nét lịch sử vắn tắt của Hội thánh Tin lành Việt Nam cho ta thấy rằng đây là hệ phái tiêu biểu và lớn nhất cho cộng đồng Tin lành ở Việt Nam. Dù rằng từ năm 1954 đến 1975, ở miền Nam xuất hiện hàng loạt hệ phái, các nhóm Tin lành không hệ phái[18] quốc tế và của cộng đồng Tin lành Việt Nam, nhưng vị thế chủ đạo của Tin lành C&MA trong mọi quan hệ chính trị - xã hội, văn hóa và tôn giáo là điều hiển nhiên.
Cũng sử gia Lê Hoàng Phu khi “tổng kết” những chặng đường lịch sử của Hội thánh Tin lành Việt Nam trước 1965, đã nhấn mạnh ba thành công cơ bản của quá trình “hơn 50 năm cố gắng truyền giảng và 38 năm Hội thánh Quốc gia tồn tại” như sau:
-               Thứ nhất, ông cho rằng, dù sao “ngày nay HTTLVN vượt trội hẳn tất cả các Hội thánh trong số 31 quốc gia mà HTPALH đang hoạt động…, HTTLVN cũng là Hội thánh đầu tiên đã hoàn thành nguyên tắc bản xứ hóa của Hội Truyền giáo trong thời gian mà hầu hết các Hội thánh khác đang còn phấn đấu với chính sách này”. Lê Hoàng Phu còn cho đây là một “kiệt tác” của sự truyền giáo toàn cầu của HTGPALH.
-               Thứ hai, tác giả cho rằng về số lượng tín hữu, cộng đồng Tin lành Việt Nam, theo tỷ lệ dân số đứng thứ hai ở Đông Nam Á, sau Miến Điện (lúc đó có 600.000 tín đồ). Nhưng điều thú vị là “trong những dân tộc có nhóm Phật giáo chiếm ưu thế tại Đông Nam Á, thì tỷ lệ người “đến từ bối cảnh Phật giáo” chuyển qua Tin lành ở Việt Nam lại đông nhất.
-               Thứ ba, cộng đồng Tin lành ở Việt Nam chủ yếu là người Kinh, nhưng trước 1965 do HTGPALH triệt để sử dụng kinh nghiệm của nhân học tôn giáo, nên đã có thể truyền giảng bằng rất nhiều thứ ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, nhờ đó đã truyền giáo có kết quả nhất định ở một số dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên và Tây Bắc Việt Nam[19].
Chúng tôi muốn nói thêm rằng, cũng cần có thêm những nhận xét về những thành tựu và hạn chế của lịch sử truyền giáo Tin lành ở Việt Nam lúc đó. Về mặt tôn giáo, dù số lượng cộng đồng tín hữu Tin lành không lớn so với các tôn giáo chủ yếu và đã hiện diện lâu đời ở Việt Nam như Phật giáo và Công giáo, nhưng nó lại là “một tôn giáo xã hội và hiện đại”, có vị thế trong các mối quan hệ quốc tế Đông – Tây, đặc biệt là quan hệ của các nước Á châu với Bắc Mỹ. Điều đó đã được Chính phủ Hồ Chí Minh nhìn nhận từ rất sớm, đúng như nhận xét của Lê Hoàng Phu: “Tuy nhiên, cho đến nay, rất ít ai để tâm nghiên cứu một trong những bộ phận quan trọng nhất của xã hội Việt Nam, ấy là đoàn thể Tin lành Quốc gia, mặc dù thành phần của nó tương đối còn trẻ và nhỏ, nhưng đã được nhất trí coi là một trong các tôn giáo của xứ từ hồi Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố Tuyên Ngôn Độc Lập tháng 8 năm 1945”[20]
 
II. Những đặc điểm thần học
II.1. Để hiểu những đường nét thần học của HTTLVN, chúng ta không thể không tìm hiểu tư tưởng thần học của HTGPALH. Nhưng muốn thế, có lẽ trước hết cũng cần phải biết những đặc điểm cơ bản của Tin lành ở Mỹ từ nửa đầu thế kỷ XX.
II.1.1. Cũng tương tự như truyền thống chính trị lưỡng đảng, đạo Tin lành ở Mỹ rất đa nguyên nhưng đại thể đã có sự phân hóa lớn thành xu hướng “Tin lành cá thể” và “Tin lành công dân”. Phát hiện của Martin Marty trong cuốn Đế chế chính trị đã nói rõ tính cách của khái niệm lưỡng cực địa – tôn giáo này ở Mỹ[21]. Năm 1967, Robert Bellah đã khuyến khích loại “tôn giáo công dân” ở Mỹ trong đó cổ vũ “các tín ngưỡng và giá trị, đặc biệt là sự tin tưởng vào Đức Chúa Trời đang kiểm soát vận mệnh của nước Mỹ và đặt nước Mỹ ở xa các nước khác…Sự căng thẳng giữa cá nhân và cộng đồng đã trở thành một dấu hiệu xác nhận tiêu chuẩn về kinh nghiệm tôn giáo ở Mỹ. Bị thu hút đến các thể chế tôn giáo nhưng người Mỹ vẫn tiếp tục tạo ra những thế giới cá nhân có ý nghĩa”[22].
Vấn đề là ở chỗ sự phân hóa có tính lưỡng cực của thế giới Tin lành ở Mỹ sẽ dẫn đến những thái độ khác nhau trong đời sống chính trị và đạo đức, trước hết là thái độ đối với truyền thống và hiện tại, chủ nghĩa tự do cá thể và chủ nghĩa cộng đồng. Một nghiên cứu khác của Fred Kniss, trên cơ sở phát triển luận điểm của Tocqueville trong cuốn Nền dân chủ ở Mỹ cho chúng ta thấy “tôn giáo truyền thống ở Mỹ đã kết hợp với tư lợi không bị ràng buộc để khuyến khích phúc lợi chung. Ngược lại, cánh tả ở Mỹ lại kết hợp chủ nghĩa hiện đại với chủ nghĩa cộng đồng ủng hộ cả hai tự quyết đạo đức của cá nhân và điều khiển hoạt động kinh tế và chính trị trong việc bảo vệ lợi ích chung[23]. Vấn đề là ở chỗ HTGPALH đứng ở vị trí nào trong cánh hữu hoặc cánh tả ở Mỹ ? Theo chúng tôi cũng như nhiều hệ phái Tin lành thuộc hệ thống Tin lành Phúc Âm, Tin lành C&MA thuộc cánh hữu?
Chúng ta đều biết rằng, truyền thống Thức tỉnh (Reveil) quan trọng như thế nào đối với Tin lành Mỹ. Nó không chỉ đem lại cho người Mỹ “sâu đậm tâm hồn tôn giáo”, mà còn thúc đẩy tính thế tục mạnh mẽ của tôn giáo. Với những giáo phái tiêu biểu như BaptismeMethodisme, Tin lành Mỹ đã đem lại nhiều sự thay đổi cho đời sống tôn giáo trong mối quan hệ với đời sống chính trị - xã hội và văn hóa.
Tiếc rằng điều này chưa được in dấu trong đời sống tôn giáo của Tin lành Việt Nam khi mẫu Hội của nó lại nằm ở cực bên kia của sự đa nguyên hóa Tin lành.
II.1.2. Ai cũng biết Chủ nghĩa Toàn thống (Fundamentalism) có ý nghĩa như thế nào đối với cộng đồng Tin lành ở Mỹ. Từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX dường như Tin lành ở Mỹ chịu sự tác động của hai khuynh hướng thần học là Fundamentalism và chủ nghĩa Tự Do (Liberalism). Về mặt lý thuyết, chủ nghĩa Toàn thống sinh ra ở Mỹ và có xu hướng chống lại chủ nghĩa hiện đại. Jean Baubérot có một nhận xét trong cuốn sách nổi tiếng Lịch sử đạo Tin lành có liên quan đến việc “định vị” thái độ thần học của hệ phái C&AM: “Một phong trào phản kháng chủ nghĩa tự do thần học Mỹ nổ ra và dẫn đến việc in ấn vào năm 1909 một loạt cuốn sách mỏng Phúc âm nhan đề “Những trào lưu chính thống”. Sự mạc khải và tính không sai lầm của Kinh thành được khẳng định mạnh mẽ cũng như sự hi sinh để cứu thế giới loài người của Chúa Jesus, thực tế những sự trừng phạt tội lỗi vĩnh cửu, cả sự cần thiết phải cải tạo của cá nhân. Từ đó trở đi, đôi khi người ta gọi các giáo hội Phúc Âm bằng cụm từ “Trào lưu Toàn thống” (tin tuyệt đối vào Kinh thánh). Cũng có người lên án nó là “bảo thủ”. Trên thực tế thì mức độ của nó cũng tùy thuộc vào các giáo hội cụ thể”[24].
Người sáng lập HTGPALH, A.B.Simpson vốn là một mục sư thuộc Giáo hội Trưởng Lão (Presbytériene) ở Canada, trước khi ông tới New York để thành lập Hội Liên Hiệp Cơ Đốc và Truyền Giáo năm 1887. Ông chấp nhận các nhà truyền giáo thuộc nhiều xu hướng khác nhau gia nhập hội, miễn là những người ấy tuân thủ nguyên tắc làm việc chung của Hội, trước hết là việc sẽ thiết lập các giáo hội bản địa trong quá trình truyền giáo.
Phần lớn các giáo sỹ tiêu biểu nhất của HTGPALH khi qua Việt Nam cũng đã thể hiện rõ xu hướng thần học “Toàn thống” của họ trong việc truyền giảng phúc âm qua sách vở, từ điển mà họ biên soạn cũng như qua chương trình đào tạo mục sư, truyền đạo người bản xứ trong trường Kinh thánh Đà Nẵng (1921) hoặc Thánh Kinh thần học viện ở Nha Trang (1960).
Theo tinh thần đó, HTGPALH luôn coi việc truyền giảng Kinh Thánh là nguồn gốc đức tin cho Cơ Đốc nhân, là kho tàng đức tin được Chúa Mạc khải cho con người. Kinh Thánh có quyền tối thượng chứ không phải theo truyền thống, Giáo hội hay giáo chủ. Mọi định chế, cách thức thờ tự cũng như các bí tích không phải là những phương tiện, dấu chỉ của Thiên Chúa ban ân điển cho con người. Mỗi tín đồ đều có tính cách tư tế và tạo nên cộng đồng Hội thánh… Mặc dù sau này tín hữu Tin lành ở Việt Nam không có nhiều điều kiện để bàn về thần học nhưng sự khác biệt đó ngay với thần học Công giáo cũng được các giáo sĩ dày công giảng giải và truyền bá.
Trước năm 1975 gần như không có cuốn sách thần học nào nói cặn kẽ về “ba khẩu hiệu lớn” của Tin lành nói chung, Tin lành Phúc Âm nói riêng. Nhưng qua việc kiên trì đường hướng về một “Kinh Phúc Âm thuần khiết”, các giáo sĩ C&MA đã đặt nền móng vững chắc cho những căn bản thần học của HTTLVN.
Tuy vậy, trong những năm 60, việc truyền giáo Tin lành ở Việt Nam cũng có sự phát triển rõ rệt. Lúc đó, thay vì truyền bá những “nguyên lý Tin lành” chung nhất, Hội truyền giáo hải ngoại Bắc Mỹ (North American Protestant Ministries Overseas) đã thúc đẩy việc truyền bá Phúc Âm với ba điểm nhấn: “Đó là Thuyết Phúc Âm trong chiều sâu (Evangelism in Depth), Phát triển giáo hội (Church Growth) và Sự mở rộng giáo dục thần học (Theological Education in Extension)” và xem đó như ba phong trào thần học lớn[25].
Những điều này sẽ in dấu trong “Thư tịch Tin lành” ở Việt Nam mà chúng tôi sẽ trình bày vắn tắt dưới đây.
II.1.3. Mặc dù xuất hiện muộn nhưng HTTLVN cũng sớm có những cơ sở đào tạo, báo chí và xuất bản. Nếu như người Công giáo phải mất 379 năm kể từ khi đặt chân đến Việt Nam, người tín đồ bản xứ mới có thể được đọc Kinh Thánh qua bản dịch tiếng Việt[26], thì năm 1926, bộ Kinh thánh đã được những giáo sĩ Tin lành xuất bản ở Hà Nội, có sự trợ giúp đắc lực của học giả Phan Khôi.
Trước năm 1945, “thư tịch Tin lành” chưa nhiều lắm, chủ yếu được xuất bản bởi nhà in của Hội Tin lành Đông Pháp ở Hà Nội. Phần lớn những cuốn sách này do các giáo sĩ của Hội truyền giáo, hoặc bản thân các mục sư Tin lành Việt Nam tham gia viết như: Lời khuyên về cách hầu việc Chúa của Homera Homer – Dixon (1936); So sánh Thứ Nhất với Thứ Nhì (tức Cựu ước và Tân ước), không rõ tác giả (1929); Ms Jackson, Các quy tắc của Hội thánh Tin lành Đông Pháp (1927); Đến cùng Đức Chúa Jêsus (dịch từ tiếng Trung Quốc, 1924); Dẫn dân quy đạo của Ms Huỳnh Văn Ngà (1937)…
Nhưng có lẽ cuốn sách thần học Tin lành đồ sộ nhất ở nước ta trước 1975 là cuốn Thần đạo học của Ms John Drange Olsen, một trong những vị Đốc học nổi tiếng của trường Kinh Thánh Đà Nẵng[27]. Bộ sách dày gần 1000 trang theo lối giáo trình thần học truyền thống của Âu – Mỹ, đã trình bày cặn kẽ, lần đầu tiên ở Việt Nam, tổng luận về thần học trước khi Luận về Thánh Kinh, Luận về Đức Chúa Trời, Luận về loài người, Luận về tội lỗi, Luận về Đấng Christ…Nhiều mục sư tên tuổi qua các thế hệ của HTTLVN đều chịu ảnh hưởng của bộ sách này.
Trong những sách như thế, nổi tiếng hơn cả là cuốn Phước Âm yếu chỉ mà Lê Hoàng Phu có nhắc đến (tr.111, sđd). Cũng là sách dịch từ tiếng Trung Quốc, tác giả là người của Hội truyền giáo, cuốn sách này để lại nhiều dấu ấn tư tưởng cho người Tin lành Việt Nam bởi lẽ nó được viết với nội dung thần học căn bản có chọn lọc, thể hiện theo lối vấn đáp, phong cách tư duy Á Đông[28].
Trường hợp cuốn Chân, giả luận (Nhà in Tin lành Đà Lạt, xuất bản năm 1939) lại gây nên những phản ứng khác. Tập sách này không chỉ giới thiệu vắn tắt về Chúa ba ngôi, Phép rửa, Cứu rỗi… mà còn trực tiếp đề cập đến mối quan hệ của người Việt với Tam giáo, các hình thức tín ngưỡng dân gian cho đến bói toán, phong tục tập quán… Cái nhìn Kitô học quá cứng rắn của sách này (dù trên nhãn quan của Tin lành cải cách) đã gây nên sự phản ứng của nhiều tín đồ các tôn giáo khác cũng như người dân Việt nói chung.
Lẽ dĩ nhiên Hiến chương và Điều lệ của HTTLVN là tài liệu cơ bản nhất để ta suy nghĩ về căn bản thần học của nó. Điều dễ thấy là những Đại Hội đồng đầu tiên (lần thứ I, 1924 đến lần thứ III, 1926), với tính cách bồi linh, hiệp nguyện nên chưa có quyết nghị. Từ Đại Hội đồng lần thứ IV, 1927 ở Đà Nẵng, HTTLVN bắt đầu ghi nhận trong Hiến chương, Điều lệ của mình. Về đại thể, các bản Hiến chương của HTTLVN luôn có điều khoản đầu tiên “Hội thánh này là cứ theo sách Cựu ước và sách Tân ước, tức là Kinh Thánh của Đức Thánh Linh soi dẫn mà lập ra”, điều mà Jackson trong cuốn Các quy tắc của Hội Thánh Tin lành Đông Pháp nói trên đã chỉ rõ[29].
Trong thực tiễn truyền giáo và đời sống thuộc linh của người tín hữu, lẽ dĩ nhiên những giáo điều căn bản trên thường xuyên chi phối họ. Nhưng dần dần “đời sống thần học” của các mục sư, truyền đạo, tín hữu cũng có sự thay đổi theo chiều hướng ngày càng sát hợp hơn với đời sống thường nhật.
Từ những năm 1940, khi HTTLVN đã dần dần trở thành Hội thánh tự chủ tự lập với Giáo hội Mẹ thì trong đời sống thần học, những vấn đề này trở nên cấp thiết. HTGPALH, như đã nói ở trên, từ lâu đã có chính sách về “Hội thánh bản xứ”[30]. Năm 1955, tại Hội nghị Á châu của HTGPALH, người ta đã bàn đến những vấn đề cấp bách, cụ thể hơn để nhanh chóng chuyển giao trách nhiệm và tài sản cho các Hội Thánh bản xứ tự lập…
Với tư duy thần học, các mục sư người Việt như Lê Văn Thái, Lê Đình Tươi, Ông Văn Huyên, Huỳnh Văn Ngà… thường có những suy tư về vấn đề này. Nhưng có lẽ người tiêu biểu nhất cho những ý tưởng về “thần học Tin lành bản địa” của HTTLVN là mục sư Lê Hoàng Phu. Trong cuốn luận án tiến sĩ về HTTLVN nói trên, bên cạnh việc đào sâu và triển khai ba nguyên tắc xây dựng một Hội thánh tự trị, tự lập mà C&MA đã đề ra là tự túc (self-support), tự quản (self-government) và tự truyền (self-propagation),ông đã có sáng kiến đưa thêm hai nguyên tắc nữa là tự dưỡng (self-nature) tự diễn (self-expression).
Hai nguyên tắc tự dưỡng tự diễn không chỉ đụng đến những vấn đề về tâm lý, tổ chức cơ cấu Hội thánh (một Hội thánh quốc gia có tính tự trị, không chỉ vươn tới sự tự chủ nhất định về tài chính mà còn tự trị về phương cách xây dựng Hội thánh), mà còn sớm đụng đến vấn đề nhạy cảm bậc nhất của cộng đồng Tin lành ở Việt Nam là thái độ với văn hóa dân tộc. Trên cơ sở quan niệm tự diễn, nghĩa là có thể tự diễn tả đức tin bằng các hình thức văn chương, nghi lễ, nghệ thuật theo truyền thống bản xứ[31], Lê Hoàng Phu đã có tầm nhìn xa và bao quát hơn: “Một Hội thánh đích thực bản địa là chỉ khi nào các đặc tính tự dưỡng và tự diễn đạt đến một trình độ có thể diễn tả bằng một triết lý riêng biệt của mình, một triết lý được xây dựng không những trên cơ sở Kinh Thánh Cơ Đốc, mà còn trong hình thức văn hóa bản xứ, làm cho mình trở nên một thành tố của sản nghiệp dân tộc và đồng thời là một đóng góp vào sản nghiệp cơ đốc phổ quát trên thế giới”[32].
Thời gian đã qua đi, ngày hôm nay, có lẽ người Tin lành Việt Nam bất kể thuộc hệ phái nào cũng còn “món nợ” với ý tưởng thần học và đời sống tôn giáo đúng đắn ấy, nghĩa là cần khẳng định một con đường “hội nhập văn hóa” cần thiết với văn hóa dân tộc, điều đó đem lại lợi ích tôn giáo cho chính những người Tin lành.
 
III. Một số vấn đề về đời sống tôn giáo
Lẽ dĩ nhiên “đời sống tôn giáo” bao gồm nhiều mặt. Dưới đây chúng tôi lựa chọn hai khía cạnh: vị trí của Tin lành Việt Nam trong đời sống chính trị - xã hộivài nét đặc sắc về truyền giáo.
III.1. Hội Thánh Tin lành Việt Nam trong đời sống chính trị-xã hội
III.1.1. Người Tin lành Việt Nam từ trước đến nay thường tâm niệm “đứng ngoài chính trị”, để duy trì vị thế độc lập với Hội truyền giáo, với các thể chế chính trị trong nước. Mục sư Lê Văn Thái được coi là tiêu biểu cho đường hướng này[33] từ năm 1945.
Như đã nói ở trên, việc xuất hiện khá muộn màng cộng đồng Tin lành ở Việt Nam trong bối cảnh chính trị - xã hội đặc biệt. Được coi là “đạo Hoa Kỳ”, Tin lành Việt Nam đã từng trải qua cơn cấm cách của Toàn quyền Đông Dương (1915), đến Sắc lệnh 15/12/1929 chính quyền thực dân và Nam triều mới hủy bỏ “chính sách cấm Tin lành trên lý thuyết”[34]. Những diễn biến chính trị tiếp theo dưới thời Toàn quyền Decoux, Nhật đảo chính Pháp, cho đến cả tình hình chính trị ở miền Nam Việt Nam sau 1954, đạo Tin lành cũng luôn ở vị thế cấm cách, nghi kị hoặc kiềm tỏa… Phải chăng những điều này có ảnh hưởng đến thái độ chính trị nói trên?
Truyền thống thế tục vốn rất mạnh ở Mỹ, trong đó các hệ phái Tin Lành tiêu biểu tuy “tự tách mình” khỏi các hoạt động chính trị đảng phái, nhưng với tư cách cá nhân họ vẫn tham gia tích cực vào hoạt động đời sống chính trị - xã hội. Lịch sử HTTLVN chưa hiện rõ đặc tính này. Tuy vậy, lúc này lúc khác, khu vực này hay khu vực khác, người Tin lành Việt Nam cũng có những trang sử như thế. Một tài liệu quý hiếm nói rằng, mặc dù Ms Lê Văn Thái từ chối, nhưng Hội Tin lành kháng chiến Nam bộ vẫn ra đời và hoạt động từ năm 1947 - 1948[35].
Một hình ảnh hiếm hoi khác về “người Tin lành Hà Nội” tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp cũng được chúng tôi phác họa qua tài liệu của bà quả phụ Ms Bùi Hoành Thử[36].
Thực ra, những kinh nghiệm lịch sử như thế cũng như cái nhìn hiện đại về “đời sống chính trị” của một tôn giáo như Tin lành không hề mâu thuẫn với những trang sử ấy. Ngày nay, Hiến chương của HTTLVN cũng thường ghi rõ “Phụng sự Thiên Chúa, phụng sự Tổ quốc”, cũng giống như anh em Hội thánh Báp-tít Việt Nam ghi rằng “Kính Chúa yêu người, làm tròn nghĩa vụ người công dân, phục vụ Tổ quốc” (Hiến chương, 2001).
III.1.2. Vấn đề Tin lành Việt Nam trong đời sống xã hội cũng có một trở ngại không nhỏ mà từ lâu bản thân các mục sư Việt Nam đã phát hiện như nhận định của Ms Lê Văn Thái: “Hội Truyền giáo Phước Âm Liên hiệp là hội chuyên rao giảng Tin lành khắp thế gian mà không lo việc xã hội và giáo dục. Giáo sĩ của Hội nầy không bao giờ đề cập đến những vấn đề xã hội và giáo dục”[37].
Thực ra, mục tiêu truyền giáo trên toàn cầu lúc đó của C&MA cũng có “tính hợp lý” của nó. Nhưng vẫn phải khẳng định rằng HTGPALH ít nhiều đã “bỏ quên” kinh nghiệm lịch sử cổ điển của Tin lành trong truyền giáo là thuyết 3C (Christ, Commerce, Civilization tức là: Chúa, Thương mại và Văn minh).
Còn với HTTLVN, khi nó đã có bước phát triển nhất định, thì một “chiến lược” hoạt động xã hội nếu chưa muốn nói đến “hội nhập văn hóa” như Ms Lê Hoàng Phu đã đề xuất ắt phải đặt ra. M.Weber đã từng khẳng định sức mạnh và tính cách tôn giáo xã hội của Tin lành. J.Baubérot, gần đây nói cụ thể hơn: “Văn hóa Tin lành, hiện thân của những khẩu hiệu thần học cải cách tôn giáo, đã lập ra mô hình của một dạng người sẵn sàng vào nhà thờ và vào xã hội mà không chờ đợi sự cứu giúp của phía bên này hoặc của phía bên kia, và luôn giữ một khoảng cách nhất định ngay bên trong những cam kết và những mối quan hệ tình cảm của mình nhằm bảo vệ cho mình “mối quan hệ cá nhân với Chúa”. Đó chính là khả năng của họ để tiếp tục sáng tạo trong một không khí mới của thế tục hóa và của giáo hội thế giới, của xu hướng cá nhân và hiện tại hóa những giá trị riêng của bản thân”[38].
Có thể những tư tưởng mới mẻ này chưa hiện rõ đầy đủ trong tư duy của người Tin lành Việt Nam trước 1975. Nhưng có thể khẳng định rằng cùng với quá trình phấn đấu trở thành một Hội Thánh tự lập, tự trị, tự truyền ít nhất từ thập kỷ 40, HTTLVN cũng đã có nhiều nỗ lực to lớn để dấn thân xã hội, trước hết là để nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của chính con cái Chúa trong Hội thánh.
Những hoạt động như thế, đặc biệt trong giai đoạn 1954-1975, chủ yếu chỉ diễn ra ở miền Nam. Nhưng người Tin lành Việt Nam vẫn có được những kinh nghiệm nhất định. Một mặt họ hướng tới việc xây dựng và phát triển “những cơ sở hạ tầng của giáo hội” như dày công nâng cấp trường Kinh Thánh Đà Nẵng, Trường Trung - tiểu học Bết-lê-hem (từ 1953)…mặt khác, tăng cường các hoạt động từ thiện và cứu trợ xã hội như thành lập Cô nhi viện Tin Lành (1950, Nha Trang), Chẩn y viện Tin lành (Nha Trang, 1961)…
Những hoạt động như thế, càng về sau càng chịu áp lực bởi một thực tế khác. Khi các hệ phái Tin lành khác, cùng với sự có mặt ngày càng đông đảo của các lực lượng Mỹ ở miền Nam Việt Nam, xuất hiện ngày càng nhiều thì cũng là lúc các hoạt động từ thiện, xã hội này bị thu hút bởi các tổ chức phi chính phủ, thông qua các hệ phái nói trên. Nhưng đây là một câu chuyện khác không thuộc phạm vi bài viết này.
 
III.2. Trở lại những hoạt động truyền giáo
Như đã nói ở trên, việc truyền giáo Tin lành ở Việt Nam trước năm 1975 vẫn được coi là có “kết quả lớn và độc đáo”. Chúng tôi muốn khép lại bài viết này bằng một số nhận xét sau đây:
- Thứ nhất, cũng giống như Công giáo, việc hình thành cộng đồng Tin lành ở Việt Nam có sự đóng góp quyết định của các giáo sĩ Hội Truyền giáo hải ngoại Bắc Mỹ và những nỗ lực bền bỉ của các thế hệ mục sư, truyền giáo người Việt.
Rút kinh nghiệm từ những thất bại của các giáo sĩ Tin lành cải cách Pháp, dường như các giáo sĩ C&MA, với sức mạnh vật chất và tổ chức, tính cách quốc tế rộng lớn của hội mình đã tạo ra đường hướng, phương pháp truyền giáo khá thích hợp. Ưu điểm nổi trội là họ đã áp dụng tốt các phương pháp truyền giáo theo kiểu nhân học tôn giáo (Anthropology of Religion) mà họ có nhiều lợi thế. Việc sử dụng thành thạo tiếng Việt, tiếng các dân tộc thiểu số, dịch Kinh Thánh nhanh với nhiều ngôn ngữ, lối truyền giảng thiết thực… là những nét tiêu biểu. Sự chuyển tải thần học của họ cũng có những nét khác biệt so với các giáo sĩ MEP đương thời. Dấu ấn của những mục sư, ngoài Tiến sĩ A.B Simpson (1843-1919) là những nhân vật như D.I. Jeffray, E.F. Irwin, W.C. Cadman, D.Olsen… là không nhỏ trong sự tạo dựng hình ảnh người Tin lành ở Việt Nam.
Riêng với các mục sư và truyền đạo của Việt Nam cũng được ghi nhận: “Số người truyền giáo Việt Nam cho các bộ lạc mà tôi gặp đã khiến tôi kinh ngạc về sự phụng hiến thuộc linh, khả năng ngôn ngữ và khả năng quản trị của họ. Trong mọi phương cách, tôi coi họ là những vị công nhân dũng cảm nhất cho Đấng Christ”[39]. Các mục sư tiên phong của Hội Thánh từ Hoàng Trọng Thừa, Dương Nhữ Tiếp, Lê Đình Tươi đến Lê Văn Thái, Bùi Hoành Thử, Ông Văn Huyên, Đoàn Văn Miêng…cũng đã có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển Hội Thánh.
- Thứ hai, HTTLVN tuy ra đời rất muộn so với người anh em Công giáo, nhưng họ cũng sáng tạo cho riêng mình nhiều kinh nghiệm truyền giáo thích hợp với một xứ thuộc địa, quan hệ chính trị - xã hội rất phức tạp khi liên hệ với “Mẫu Hội”. Đó là các phương pháp truyền giảng nổi tiếng như “chứng đạo cá nhân”, truyền đạo theo tộc họ “một người tin cả nhà được cứu”, từ lệ thuộc vào các giáo sĩ nước ngoài đến việc chủ động trong truyền giảng thần học, củng cố đức tin và “sáng tạo” ra các hình thức tổ chức thích hợp với Hội thánh bản địa. Dần dần người Tin lành Việt Nam cũng áp dụng các phương pháp truyền giáo “hiện đại” như sử dụng truyền thông đại chúng, đoàn tuyên úy, tận dụng các quan hệ quốc tế…
- Thứ ba, về đối tượng truyền giáo. Là tôn giáo gặp khó khăn trong đặt chỗ đứng chân, giành “thị phần truyền giáo”, Tin lành Việt Nam một thời gian dài đã xác định tầng lớp trung lưu, thị dân là đối tượng cơ bản. Họ dần dần cũng nhận thấy hai điểm yếu. Trước hết, họ chưa thu hút được nhiều giới trí thức tinh hoa (élite)[40]. Điều này là có thực, một phần vì tâm lý e ngại đạo Tin lành có khi còn khắt khe hơn so với sự e ngại với đạo Công giáo trước đây trong các gia đình quan lại trí thức người Việt lúc đó. Sau nữa, HTTLVN cũng chưa thể thu hút được nhiều tín hữu từ khu vực nông thôn. Điều này chắc hẳn có lý do sâu xa, Tin lành với nét trội của thứ “tôn giáo hiện đại và cá thể”, tự nó dễ xung đột với truyền thống cộng đồng làng xã của nông dân. Tuy vậy, việc giành được một số kết quả quan trọng trong việc truyền giáo nơi đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên trước năm 1975 chỉ là kết quả của “lôgíc chiến tranh”[41].
- Thứ tư, vấn đề hệ phái.
Cho đến trước 1975, về đại thể khái niệm “đạo Tin lành” ở Việt Nam bao gồm ba bộ phận: i) “Tin lành chính thống” tức Hội thánh Tin lành Việt Nam, nguồn gốc C&MA, với Tổng hội (miền Bắc) và Tổng Liên hội (miền Nam); ii) Nhóm các hệ phái, tổ chức liên hệ phái và các tổ chức không hệ phái, trong đó rất nhiều là “các Hội thánh tư gia” và đặc biệt nhóm hệ phái của những tín hữu tin và thực hành Linh Ân (Ân tứ Thánh linh) với tên gọi chung là các hệ phái Ngũ Tuần. Ngoài ra còn có, iii) những nhóm phái mà HTTLVN coi là “tà giáo” như Chứng nhân Giê-hô-va, nhóm Mormons, Hội thánh Cơ Đốc Phục Lâm (nhóm Lễ tư gia), Tân sứ đồ, Hội Thánh Duy nhất[42].
Đây cũng là vấn đề tổ chức tôn giáo có tính chiến lược với đạo Tin lành ở Việt Nam nói chung, nói riêng là với HTTLVN. Sẽ còn phải có những nghiên cứu xã hội học tôn giáo kỹ hơn về điều này, như sự vận động tất yếu của tính đa nguyên, độc đáo của Tin lành nói chung. Ms Phạm Xuân Tín đã có những ý kiến của mình trong tập sách nhỏ về các hệ phái Tin lành ở Việt Nam.
Hiện chúng ta chưa có một nghiên cứu đầy đủ về sự phát triển các hệ phái Tin lành ở Việt Nam có liên quan đến “Hội thánh gốc”. Nhưng rõ ràng có thể thấy rằng, Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam), từ đầu thập kỉ 70 chính là “Hội thánh mẹ” của rất nhiều hệ phái Tin lành Việt Nam hiện nay, đặc biệt là loại hình Hội thánh tư gia, một số hệ phái Tin lành truyền giáo không hệ phái, bên cạnh hàng loạt các hệ phái Tin lành mới du nhập từ đầu thập kỷ 70 chủ yếu từ Mỹ vào miền Nam như chúng tôi đã nói trên.
Đây cũng là một đòi hỏi chuyên môn cần thiết khi chúng ta muốn hiểu rõ toàn cảnh gia đình Tin lành ở Việt Nam hiện nay.
Lời kết
Chúng tôi muốn khép lại bài viết này bằng một cảm nhận chung rằng, lịch sử đạo Tin lành ở Việt Nam, ít nhất qua hệ phái “chính thống và tiêu biểu nhất” là Hội thánh Tin lành Việt Nam trước 1975, cũng cho ta thấy quá trình xuất hiện, những chặng đường phát triển gập ghềnh của tôn giáo đặc biệt phương Tây này. Người Tin lành Việt Nam lúc ấy, có khi còn “lạ hơn” người Công giáo trong con mắt người Việt ngoài Kitô giáo, khiến cho họ chưa thể phát huy những sức mạnh tự thân của những người “sẵn sàng đi vào nhà thờ cũng như đi vào xã hội”, tôn giáo của tính hiện đại trong đó “đức tin vào Chúa Trời” và sự giải thiêng luôn đi liền với nhau. Tất nhiên là có vấn đề “của những điều kiện lịch sử”. Nhưng chắc hẳn đó vẫn là những suy tư của người Tin lành Việt Nam hôm nay.
TS- Đỗ Quang Hưng
Tài liệu tham khảo
1.   Encyclopédie du protestantisme, sous la dir. de Pierre Gisel, ed. Puf, Paris, 2006.
2.   J. Baubérot – J. P. Willaime, Le Protestantisme, MA ed. Paris, 1987.
3.   C. Marquet, Le Protestantisme, ed. Jacques Grancher, Paris, 1989.
4.   A. Encrevé, Les protestants en France de 1800 à nos jours, ed. Stock, Paris, 1985.
5.   Mission Handbook: North American Protestant Ministries Overseas, 10th Edition, NewYork, 1973.
6.   E.F. Irwin, With Christ in Indochina, the Story of Alliance Missions in French Indo-china and Easttern Siam, Harrisburg, Pa. Christian Publicatians, Inc, 1937.
7.   G.Bois, Histoire des Missions en Indochine et les Protestants francais, Villeneuve-les-Avignon: Manuscrits, 1952.
8.   Douglas Jacosen & William Vance Trollinger Jr, Reforming the center American Protestantism, 1900 – to the present, Michigan/ Cambridge, U.K 1998.
9.   Ms, Ph.D. Lê Hoàng Phu, Lịch sử Hội Thánh Tin Lành Việt Nam, bản thảo Luận án Tiến sĩ, 1972, 415 trang. Bản gốc tiếng Anh, Le Hoang Phu, A History of the Evangelical Church of Vietnam (1911-1965), New York University, 1972.
10. Lê Văn Thái, Bốn mươi sáu năm trong chức vụ, hồi ký, Cơ quan Tin Lành xuất bản, Sài Gòn, 1971.
11. Đỗ Hữu Nghiêm, Phương pháp truyền giáo của Tin Lành giáo tại Việt Nam, Luận án cao học Sử học, Trường Đại học Văn Khoa, Sài Gòn, 1968.
12. Ms John Drange Olsen, Thần đạo học, Nhà in Tin Lành, Sài Gòn, 1968.
13. A.B. Simpson, Lược giải sách công vụ các sứ đồ, Nhà in Tin Lành Nha Trang, 1963.
14. Homer Homer-Dixon, Thánh Kinh lược sử, Hội Thánh Tin Lành Đông Pháp, 1937.
15. Phúc Âm yếu chỉ, Hội Thánh Tin Lành Đông Pháp, không rõ năm xuất bản.
16. Trần Ất Sơn, Tịch tà quy chính, Hội Tin Lành Đông Pháp, 1937.
17. Chân, giả luận, Hội Thánh Tin Lành Đà Lạt, 1948.
18. Nguyễn Thanh Xuân, Đạo Tin Lành trên thế giới và Việt Nam, Nxb Tôn giáo, 2004.
19. Ms Bùi Hoành Thử, Lịch sử Hội Thánh Tin Lành Việt Nam, bản viết tay, lưu tại thư viện gia đình nhà văn Bùi Đình Thi.
20. Đỗ Quang Hưng, Đời sống tôn giáo tín ngưỡng Thăng Long – Hà Nội, Nxb Hà Nội, 2010.


[1] The Christian and Missionary Alliance of America là tên gốc, Hội Thánh Mẹ của Hội Thánh Tin lành Việt Nam, nguyên là một tổ chức Tin lành không hệ phái, thuộc Tin lành Phúc Âm Mỹ, có từ  giữa thế kỷ XIX.
[2] Ngoài Tổng hội Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc) được công nhận năm 1958, Tổng Liên hội Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam) năm 2001; lần lượt 9 hệ phái được công nhận là: Hội Truyền giáo Cơ Đốc Việt Nam (2007); Hội thánh Liên hữu Cơ Đốc (2007); Giáo hội Cơ Đốc Phục lâm Việt Nam (2008); Tổng hội Bắp tít Việt Nam (Ân điển Nam phương) (2008); Hội thánh Tin lành Trưởng lão Việt Nam (2008); Hội thánh Bắp tít Việt Nam (Nam phương) (2008); Hội thánh Phúc âm Ngũ tuần Việt Nam (2009); Hội thánh Chứng nhân Jehovah (2009) và Hội thánh Menonite Việt Nam (2009). Các hệ phái này đều được Ban Tôn giáo chính phủ cấp giấy công nhân, trừ nhóm Chứng nhân JehovahHội thánh Menonite Việt Nam (do Tp Hồ Chí Minh cấp). Về mặt pháp lý hiện thấy có hai cấp độ “có tư cách pháp nhân” hoặc “được đăng ký hoạt động”. Ở Việt Nam, hiện chỉ có cuốn sách của Nguyễn Thanh Xuân, Đạo Tin Lành trên thế giới và Việt Nam, Nxb Tôn giáo, 2004, giới thiệu tương đối đầy đủ các hệ phái Tin lành trước 1975.
   Với tình hình hiện nay, khái niệm “đạo Tin lành ở Việt Nam” đã thực sự thay đổi, đa dạng về hệ phái hơn, không chỉ có “hệ phái chính thống” là Tin lành CMA nói trên.
[3] Trong thế giới Kitô giáo, đạo Tin lành được coi là bộ phận thể hiện sinh động nhất mối quan hệ giữa hai căn tính tính thống nhất (unité) và tính đa dạng (diversité). Thế giới Tin lành tính đến giữa thế kỷ XX đã hình thành ba bộ phận chính: Tin lành cải cách (Giáo hội luthériennes, Tin lành cải cách hay Calvinistes và phong trào Anabaptistes hay Cải cách bảo thủ); Tin lành Phúc âm (tiêu biểu là Baptisme Méthodisme) và phong trào Ngũ tuần (Le Pentecôtisme). Như vậy giai đoạn “tiền Tin lành” ở Việt Nam chủ yếu chịu ảnh hưởng của Tin lành Cải cách châu Âu.
[4] Xem G. Bois, Lịch sử truyền giáo ở Đông Dương và những người Tin lành Pháp, nguyên văn tiếng Pháp Histoire des Missions en Indochine et les Protestiantes francais, 1952, Avignon, Pháp. Đây là giai đoạn mà các giáo sĩ Hội truyền giáo nước ngoài Paris ngày càng có ảnh hưởng với nhà Nguyễn, trường hợp J.B.Chaigneau, một người Tin lành có vị trí ấy thật là cá biệt.
[5] Theo tài liệu G.Bois nói trên thì lần lượt xuất hiện các mục sư như: T.Boisset (Hải Phòng, 1884), J.Pannier (Hà Nội 1902-1905), Mestayer (Sài Gòn, 1902), L.Saint-André (Hà Nội, 1904-1911), A.Richemont (Hà Nội, 1906)… các truyền đạo như Bonnet (Hải Phòng 1902-1911; Đà Nẵng 1902); U. Soulier (Hà Nội 1922-1923); P. Monet (Hà Nội 1922-1925) và đặc biệt bản thân G.Bois ở Hà Nội 1923-1925; B.Luze (Sài Gòn, Đà Lạt 1949). Thậm chí giai đoạn 1960-1975 cũng còn có mặt P.Mesdard ở Sài Gòn. Riêng G.Bois từ 1924 đã làm giáo sư triết học trường Albert Sarraut ở Hà Nội đến tận 1947.
[6] Tham khảo Đỗ Hữu Nghiêm, Phương pháp truyền giáo của Tin Lành giáo tại Việt Nam, Viện Đại học Sài Gòn, Trường Đại học Văn Khoa, luận án cao học sử, Sài Gòn, 1968, 319 trang. Chúng tôi đã có khảo sát tờ tạp chí nói trên Bulletin du Foyer des Étudiants Annamites, số 1 ra tháng 7/1923; số cuối cùng, số 5-6 cuối 1924. Tạp chí song ngữ này mỗi số trên dưới 300 trang, thu hút nhiều cây bút nổi tiếng của xứ Bắc Kỳ như Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Kế Bính… P.Monet cũng trong thời gian đó còn cho xuất bản tạp chí tiếng Pháp 3 tháng một kỳ L’Evangile en Indochine Francaise (được 6 số). Những điều trên cho thấy nỗ lực không nhỏ của những người Tin Lành cải cách Pháp trong việc truyền giáo ở Việt Nam.
[7] Chính quyền thuộc địa Pháp ở Đông Dương chỉ công nhận tư cách pháp nhân cho đạo Tin Lành từ năm 1937 theo Sắc lệnh của Toàn quyền Đông Dương.
[8] Xem cuốn: Jean Baubérot, Valentine Zuber, Une haine oubliée L’antiprotestantisme avant le “pacte laique” (1870 – 1905), Paris 2000. Cuốn sách này nhắc lại lịch sử đẫm máu chống đạo Tin Lành ở Pháp trước khi xuất hiện Luật Phân ly 1805.  Các tác giả cho rằng, lịch sử chống đạo Tin Lành ở Pháp cũng là “một trang sử không thể thiếu được của lịch sử nền Cộng Hòa và tư tưởng thế tục”. Mặc dù sau Cách mạng 1789, người Tin Lành Pháp đã được thừa nhận, tình trạng trốn chạy đã chấm dứt, nhưng họ vẫn luôn ở vị trí thiểu số và bị e ngại về tư tưởng và thần học…
[9] Xem cuốn J. Delumeau (chủ biên), Le Fait religieux, nguyên văn tiếng Pháp, Payard, Paris, tr.147.
[10] Công việc truyền bá Thánh kinh, thần học Tin Lành… chỉ có các mục sư Hội truyền giáo Phúc âm Liên hiệp làm được, từ việc dịch Kinh thánh ra tiếng Việt, dịch và viết các tác phẩm về thần học, truyền giáo… mà chúng tôi sẽ trình bày ở phần tiếp theo.
[11] Xem Ms Lê Hoàng Phu, Lịch sử Hội thánh Tin Lành Việt Nam (1911-1965), sđd, tr.82.
[12] Xem cuốn Le Fait Religieux…, sđd, tr.152.
[13] Xem Kỷ yếu Kỷ niệm 90 năm Tin Lành đến Việt Nam của Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam), xuất bản nội bộ, 2001, tr.4.
[14] Xem Đỗ Hữu Nghiêm, Phương pháp truyền giáo của Tin Lành giáo tại Việt Nam, tư liệu đã dẫn.
[15] Theo Hiệp ước 1884, nhà cầm quyền Pháp giải thích rằng, đạo Tin Lành không được phép hoạt động trên các lãnh thổ bảo hộ, nửa bảo hộ (Bắc và Trung Kỳ). Khi đạo Tin Lành có chỗ đứng chân đầu tiên ở Đà Nẵng năm 1911 tự nó phải coi là một thắng lợi quan trọng về pháp lý với chính quyền thực dân.
[16] Trường này do D.Olsen, giáo sĩ nổi tiếng làm Đốc học. Năm 1927, khóa sinh viên tốt nghiệp đầu tiên trong đó có các mục sư như Hoàng Trọng Thừa, Dương Nhữ Tiếp, Lê Đình Tươi, Dương Tự Ấp… năm 1928, như Lê Văn Thái, Ông Văn Huyên… đã lần lượt đảm trách chức vụ Hội trưởng của các Ban trị sự Tổng liên hội từ 1927-1959. Xem Kỷ niệm 90 năm Tin Lành đến Việt Nam… tư liệu đã dẫn.
[17] Trước năm 1954, Hội thánh có chung ba Hạt: Bắc Hạt, Trung Hạt và Nam Hạt. Riêng ở miền Nam bao gồm hai Hạt sau. Từ 1960, ở miền Nam có thêm “Thượng Hạt” (cho vùng Tây Nguyên).
[18] Ở miền Nam trước năm 1954, đã xuất hiện hệ phái Giáo hội Cơ Đốc Phục Lâm An Tức Nhật (The Seventh-Day Adventist Church) từ 1929 ở Cần Thơ, Châu Đốc, Sài Gòn. Rời khỏi Việt Nam năm 1947, quay lại năm 1954. Đến năm 1960 có cơ sở ở Tây Nguyên trong một số dân tộc ít người trong vùng… Đây là hệ phái có tuổi đời chỉ sau C&MA và có số tín đồ tới 50.000 người (1975). Giáo hội Menonite (The Menonite Church), có mặt ở miền Nam từ sau 1954; Giáo hội Bắp tít (The Baptist Church), từ năm 1959, trước hết ở Sài Gòn, Đà Lạt, Nha Trang; Giáo hội “Hội thánh Đấng Christ (The Church of Christ), từ 1963; Giáo hội Chứng nhân Giêhôva (The Jehovah’s Witnesses), từ 1967; Giáo hội Ngũ Tuần (The Pentecostals), có mặt ở Việt Nam từ 1970, một hệ phái có sự bùng phát từ những năm 1990… Ngoài ra, còn rất nhiều các tổ chức Tin Lành không hệ phái.
[19] Theo Thống kê của mục sư Mangham, Hội trưởng HTGPALH tại miền Nam, vào thời điểm 1965 Hội truyền giáo đã có thể truyền giảng, ngoài tiếng Việt, cho các ngôn ngữ sau đây: Jarai, Bahnar, Rađê, Srê, Bru, Katu, Stiêng, Chrao, Raglai, Thái, Quảng Đông, Quan Thoại, Pháp, tiếng Hàn, tiếng Chăm, Khmer… Riêng ở Việt Nam, chúng tôi cũng chưa thống kê chính xác được có bao nhiêu bản dịch Kinh thánh ra tiếng các dân tộc thiểu số.
[20] Xem MS. Lê Hoàng Phu, Lịch sử Hội thánh Tin Lành Việt Nam 1911 – 1965, Sđd, trang 5.
[21] Xem Martin E. Marty, Righteous Empire: the Protestant Experience in America (New York: Happer & Row, 1970).
[22] Dẫn theo Charles H. Lippy, Tôn giáo trong tiến trình lịch sử xã hội Hoa Kỳ, Đặng Thị Hà dịch, Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, số 8, 2002. Bài này gốc ở Encyclopedia of America Social History, Vol 1, Mary Kupes Clayton, Elliot J. Gorn, Peter W. Williams Editiors. Bản thân chúng tôi bước đầu cũng thể hiện suy tư của mình về hai dòng chính (Tin Lành Phúc ÂmNgũ tuần) trong cấu trúc của “Tin Lành Mỹ”. Xem bài Đỗ Quang Hưng, Vài nhận biết về Tin Lành Mỹ, trong cuốn Nghiên cứu tôn giáo: Nhân vật, sự kiện, Nxb Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh, 2010, tr.358-377.
[23] Xem bài của Fred Kniss, Reforming the center American Protestantism, 1900 – to the present, của Douglas Jacosen & William Vance Trollinger Jr, Michigan/ Cambridge, U.K 1998.
[24] Xem Jean Baubérot, Lịch sử đạo Tin Lành, nguyên bản tiếng Pháp, người dịch Trần Sa, Nxb Thế Giới, 2006, trang 166 – 167.
[25] Xem bài Lược sử vắn tắt: Hội truyền giáo hải ngoại Bắc Mỹ, của J. Herbert Kane, nguyên bản tiếng Anh A Brief History of North American Overseas Missions, trong cuốn Mission Handbook: North American Protestant Ministries Overseas, 10th Edition, NewYork, 1973, p.6-9.
[26] Cố Chính Linh, giáo sĩ MEP là người đầu tiên dịch Kinh Thánh ra tiếng Việt, được xuất bản tập đầu năm 1912, Nhà in Nazarech, Hồng Kông.
[27] Theo Ms Lê Văn Thái, năm 1927 khi giáo sĩ D.J. Olsen được cử làm đốc học thì chính ông đã thiết kế lại toàn bộ chương trình đào tạo của Trường Kinh Thánh Đà Nẵng theo hướng căn bản hơn. Ông cũng có ảnh hưởng lớn đến các chủng sinh của trường này, cũng như có tiếng nói trong xã hội lúc đó.
[28] Chương 18 của cuốn sách mỏng này nói về “Sự thờ hình tượng, Sự thờ ông bà, Sự chọn ngày” đã đụng đến tâm lý sâu kín, thói quen thờ cúng tổ tiên, trời đất của người Việt Nam với lối giải thích rất khôn ngoan, tránh mâu thuẫn giữa việc thờ phụng Đức Chúa trời đối chọi với thờ cúng ông bà, điều mà người Công giáo vấp phải hàng trăm năm (tr.71-72,sđd).
[29] Hiến chương và Điều lệ của HTTLVN phản ánh điều này qua những diễn ngôn có thể khác nhau. Bản Điều lệ của HTTLVN (miền Bắc), Hà Nội, 1963, trong Tôn chỉ (Điều 3) có ghi: “1. Hết lòng kính thờ Đức Chúa Trời Ba Ngôi; 2. Yêu tổ quốc, bảo vệ hòa bình, thực hiện công bằng, bác ai, tự do, bình đẳng và lao động”. Điều 4 của bản Điều lệ này có tên Sự tin kính ghi “HTTLVN (miền Bắc) chỉ công nhận Kinh Thánh Cựu – Tân ước làm nguồn gốc về các điều tin kính của Hội Thánh…”
[30] Theo tài liệu chính thức của HTGPALH, nếu như Hội thánh Philippin trở thành Hội thánh độc lập năm 1947 thì HTTLVN đã bắt đầu tự trị tự lập từ 1937, đến năm 1941-1943, nó trở nên “hoàn toàn tự trị, tự lập, vì trong thời kỳ này, Hội thánh chẳng nhận nào vô luận là gì, từ Hội truyền giáo hoặc từ nguồn nào trừ số tiền dâng của các giáo hữu” (Lê Hoàng Phu, sđd, tr.303).
[31] Người Tin Lành Việt Nam trước 1975 rất nhờ trường hợp nhân vật Nguyễn Châu Ân, người đầu tiên đã soạn Thánh Ca theo các giai điệu âm nhạc dân tộc, thậm chí sử dụng cả các hình thức diễn xướng dân gian… điều mà mục sư P.E.Carlson đã nghĩ đến từ năm 1930. Tiếc rằng nỗ lực này không đi đến đích.
[32] Xem Lê Hoàng Phu, Lịch sử Hội thánh Tin Lành Việt Nam (1911-1965), sđd, tr.392.
[33] Sự kiện ngày 8/9/1945, Ms Lê Văn Thái cùng Ms Trần Văn Đệ và Bùi Hoành Thử được Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp kiến ở Bắc Bộ phủ, Hà Nội ngay sau nước VNDCCH ra đời. Ms Thái đã từ chối đề nghị của Hồ Chí Minh về việc lập “Tin Lành cứu quốc”, thành viên của Mặt trận Việt Minh và xem đó như một tuyên ngôn chính trị của Hội thánh (Lê Văn Thái, Hồi ký: Bốn mươi sáu năm trong chức vụ, Cơ quan Tin Lành xuất bản, Sài Gòn, 1971, tr.159-160. Tham khảo thêm bài của Đỗ Quang Hưng, Tôn giáo và cách mạng, trong cuốn Nghiên cứu tôn giáo: Nhân vật và sự kiện, sđd, tr.267-289.
[34] Theo Ms Lê Văn Thái, một phần điều này có được vì tác động của bà Cadman với Quốc hội Pháp (xem Lê Văn Thái, Hồi ký: Bốn mươi sáu năm trong chức vụ, sđd, tr.97). Theo hồi ký của Ms Bùi Hoành Thử, ông bà Ms W.C. Cardman và bà H.Dixon thuộc số ít những giáo sĩ từng tuyên bố: “tôi là người Việt Nam, nước Việt Nam là tổ quốc thứ hai của tôi…” và họ hành động như vậy cho đến khi qua đời và an nghỉ tại Việt Nam.
[35] Chúng tôi đã công bố bức thư của Hội Tin Lành kháng chiến Nam Bộ gửi Hồ Chủ Tịch ngày 8/5/1948, thể hiện thái độ đứng về kháng chiến của họ. Xem trong cuốn Nghiên cứu tôn giáo: Nhân vật và sự kiện, sđd, tr.283.
[36] Tài liệu này in trên Tạp chí Thông Công, số 3, tháng 6/2006. Có thể tham khải cuốn của Đỗ Quang Hưng, Đời sống tôn giáo tín ngưỡng Thăng Long - Hà Nội, Nxb Hà Nội, 2010. Phần viết Người Tin Lành ở Hà Nội trước Cách mạng Tháng Tám 1945, tr.317-328.
[37] Xem Bốn mươi sáu năm trong chức vụ, sđd, tr.234.
[38] Xem J. Baubérot, Lịch sử đạo Tin Lành, bản dịch từ tiếng Pháp của Trần Sa, sđd, tr.179.
[39] Ý kiến của Ms L.L. King, thư ký đối ngoại của C&MA năm 1967, xem Lê Hoàng Phu, Lịch sử Hội Thánh Tin Lành Việt Nam (1911-1965), sđd, tr.381.
[40] Đào Duy Anh từng nói “Tin Lành thì tốt nhưng chỉ người dốt mới tiếp nhận đạo ấy”. Phạm Quỳnh lại nói, ở Huế “tại sao các ông tuyển lựa người có học thức hơn để giảng đạo”. Những nhận xét như thế được Lê Hoàng Phu ghi nhận rằng: “Ấy là sự thật không chối cãi được. Trước đệ nhị thế chiến, người Tin Lành không làm điểm chạm mạnh trên tầng lớp học thức hoặc thượng lưu của xã hội”. Xem Lê Hoàng Phu, Lịch sử HTTLVN (1911-1965) sđd, tr.377.
[41] Nhiều nhà nghiên cứu phương Tây và Việt Nam đã phát hiện điều này: theo chân lực lượng quân đội Mỹ ở khu vực Tây Nguyên, Tin Lành tự nó “mọc lên” trong các dân tộc thiểu số khu vực này. Xem Đỗ Hữu Nghiêm, Đạo Tin Lành nơi các dân tộc ít người nam Trường Sơn – Tây Nguyên (1928-1975), Viện KHXHVN, tài liệu chưa xuất bản.
[42] Như chúng tôi đã phân tích ở trên, điều này cũng phản ánh ảnh hưởng Tin Lành Mỹ và thế giới với hai dòng lớn là Tin Lành Phúc Âm Tin Lành Ngũ Tuần (Tin Lành Linh Ân, tên gọi quen thuộc khác của người Việt). Nhóm ii) là vấn đề lớn và đặc biệt, không chỉ trước 1975 mà cả những năm gần đây. Đã có ý kiến sắp xếp khoảng trên dưới 50 hệ phái, tổ chức của nhóm này thành “hai tổ chức Thông Công, tức Fellowship, thường gọi tắt là F1 và F2”. Từ khi có Chỉ thị 01 (2005) của Chính phủ với tinh thần giải quyết “trọn gói” vấn đề pháp lý của các hệ phái Tin Lành ở Việt Nam, vấn đề phức tạp này đã dần dần có hướng giải quyết thuận lợi như chúng tôi đã đề cập.

(

Đạo Tin lành ở Việt Nam một cái nhìn tổng quátBài viết này của chúng tôi chỉ đề cập đến những vấn đề lịch sử của hệ phái “Tin lành chính thống”, đông đảo nhất về số lượng tín hữu, cũng là cộng đồng Tin lành hiện diện lâu đời nhất ở Việt Nam (gần 100 năm tuổi) là Hội thánh Tin lành Việt Nam (tức C&MA),
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
Nghị quyết H.Res.20 của Hạ viện Mỹ - một sự phản ánh sai lệch tình hình tôn giáo tại Việt Nam.
Mùa Noel: Đọc thư chúc mừng Giáng sinh gửi đồng bào Công giáo của Hồ Chủ tịch
Vài nét phân tích cách chắp tay và lạy của đạo Cao đài
Tư tưởng Thiền của Tuệ Trung Thượng Sỹ ảnh hưởng tới Thiền Phái Trúc lâm Việt Nam
Tìm hiểu về phẩm vị chức sắc trong đạo Cao đài
Tìm hiểu cơ bản về Islam (Hồi giáo)
Tờ Khai tịnh đạo – Tuyên ngôn thành lập đạo Cao đài
Hội Phật giáo Bắc kỳ với vấn đề vàng mã
Nguyễn Trường Tộ - Người Công giáo yêu nước và là triết gia lớn ở Việt Nam thế kỷ XIX
Lễ hành hương về Thánh địa Mecca của tín đồ Hồi giáo
Tìm kiếm
Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Tin tức Video
Đời sống tôn giáo trong thời kỳ đổi mới
Yêu lắm Trường Sa
Tự hào con Lạc cháu Hồng
Hình ảnh
Hình ảnh Lễ Lá tại quê hương Chúa Giêsu 2014
Lễ Khánh thành Thánh Thất Đặng Giang
Triển lãm ảnh về Trưởng Dòng truyền thừa Gyalwang Drukpa đời thứ XII của Phật giáo Nepal
Âm thanh
Nam Định thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về vấn đề tôn giáo và công tác tôn giáo
Phật giáo Việt Nam trong xu hướng vận động của Phật giáo thế giới
Đại lễ Phật đản ở Thừa Thiên Huế (Phật lịch 2556)



Người chịu trách nhiệm chính:
Ông Nguyễn Thanh Xuân
Phó trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ

Email: ttttbantongiao@chinhphu.vn
 

BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Phường Yên Hòa - Quận Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 043 8 248 763 . Fax: 043 8 256 300
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn

 

LIÊN KẾT WEBSITE KHÁC