Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Ngày 19/09/2019 01:18 PM
Ấn phẩm sách
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 8/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 7/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 6/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 5/2019
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?















Chọn    Xem KQ
Tư tưởng Thiền của Tuệ Trung Thượng Sỹ ảnh hưởng tới Thiền Phái Trúc lâm Việt Nam

            Yên Tử, nơi khai sinh Thiền Phái Trúc lâm Việt Nam (hay còn gọi là Thiền Phái Trúc lâm Yên Tử), cũng là nơi khai sinh một nền văn hoá nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam, đó là văn hoá thời Trần. Yên Tử đồng thời là nơi hội nhập của ba trường phái tôn giáo: Thảo đường, Vô ngôn thông và Tỳ - ni - lưu - đa - chi, trên cơ sở đó hình thành Thiền Phái Trúc lâm Việt Nam, mà Tổ thứ nhất là Trần Nhân Tông, Tổ thứ hai là Pháp Loa, Tổ thứ ba là Huyền Quang.

            Tuy nhiên, khi nghiên cứu về Thiền phái Trúc lâm Yên Tử, không thể bỏ qua nhân vật quan trọng, có ảnh hưởng rất lớn đến tư tưởng của Thiền Trúc lâm Yên Tử, đó là Tuệ Trung Thượng Sỹ, người đã truyền thụ giáo lý Phật giáo cho Tổ thứ nhất Trần Nhân Tông. Vấn đề này đã được ghi  lại trong sách Tam Tổ Thực Lục: “Trần Nhân Tông tham khảo những yếu chỉ của Tuệ Trung Thượng Sỹ, thu lượm được nhiều tinh hoa của đạo Thiền, nên vẫn nhờ Thượng Sỹ làm thầy”. Tư tưởng Phật giáo của Tuệ Trung cũng ảnh hưởng không ít đến Pháp Loa (Tổ thứ hai) được thể hiện qua việc, Pháp Loa đã ghi lại những lời nói và thơ văn của Tuệ Trung với cuốn “Tuệ Trung Thượng Sỹ ngữ lục”. Vậy, Tuệ Trung Thượng Sỹ là ai? tư tưởng Thiền của ông và ảnh hưởng đến Thiền phái Trúc lâm như thế nào?

1. Tuệ Trung Thượng Sỹ và tư tưởng thiền của ông
        
          Tuệ Trung Thượng Sỹ tên thật là Trần Tung, sinh năm 1230, mất năm 1291, là con trai Trần Liễu, anh ruột của Trần Hưng Đạo và hoàng hậu Nguyễn Thánh Thiên Cảm (vợ Trần Thánh Tông, mẹ của Trần Thái Tông). Trần Tung là  người anh hùng đã lập chiến công lớn trong các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông năm 1285 và 1288, được phong tước Hưng Ninh Vương. Ông  là người cương trực, không hám danh lợi; bởi vậy, sau khi chiến thắng quân Nguyên ông lui về trang ấp của mình sống một cuộc đời thanh bạch và nghiên cứu Thiền, rồi trở thành một nhà thiền học lỗi lạc. Ông đã để lại một phần trong sách Ngữ Lục và khoảng 50 bài thơ in trong “Thượng Sỹ ngữ Lục”, được Trần Nhân Tông rất khâm phục và phong cho ông là Tuệ Trung Thượng Sỹ.
 
          Trần Tung không chỉ là một tướng chỉ huy tài ba, xông pha trận mạc, mà còn là nhà Thiền học lỗi lạc. Tuy theo đạo Phật (Phái Thiền), nhưng lại ăn thịt chứ không ăn chay. Sách Tuệ Trung Thượng Sỹ chép rằng: Một hôm Thái hậu Thiên Cảm em ruột của Thượng sỹ làm tiệc chiêu đãi, trên bàn tiệc Thượng sỹ ăn hết các món.Thái hậu thấy lạ bèn hỏi: “Anh bàn chuyện thiền mà lại ăn thịt sao thành Phật được”; Thượng Sỹ đáp: “Phật là Phật, anh là anh, anh không muốn làm Phật, Phật cũng không muốn làm anh”. Chẳng thấy bậc tu xưa đã nói: “Văn Thù là Văn Thù, giải thoát là giải thoát”. Qua đây ta có thể thấy, Tuệ Trung Thượng Sỹ là Thiền gia ăn thịt theo triết lý thật lô gích. Bởi, Tuệ Trung Thượng Sỹ coi Tâm là Phật, Phật là Tâm. Quan niệm này được trình bày trong bài Phật Tâm ca:
 
                                              “Nhật nhật đối cảnh thì
 
                                               Cảnh cảnh tòng tâm xuất
 
                                               Tâm cảnh bản lại vô
 
                                               Xứ xứ ba - la - mật” 
 
          Ý của bài kệ trên là: hàng ngày ta đối diện với cảnh, tức thế giới hiện tượng, thế giới hiện tượng đó từ tâm, tức từ ý thức của ta sinh ra; nhưng cảnh vật cũng như tâm ý thức đều là không có gì cả.
 
Có thể nói: quan điểm của Tuệ Trung Thượng Sỹ là phủ nhận sự tồn tại của vật chất và ý thức. Từ chỗ coi Tâm là Phật, Phật là Tâm và cảnh vật đều là hư vô, ông cho rằng, không nên đối lập giữa Tâm với Phật; đồng thời, cần phải từ bỏ mọi đối lập khác như phàm và thánh,…Phải bỏ sự đố kỵ đó mới trở thành giác ngộ, và chỉ bỏ được cách nhìn phân đôi đó, thì pháp giới mới bao dung được tất cả. Có thể nói, quan niệm của Tuệ Trung Thượng Sỹ là phủ nhận sự tồn tại của vật chất và cả sự tồn tại của ý thức.
 
Từ chỗ coi Tâm là Phật, Phật là Tâm và cảnh đều là hư vô, ông cho rằng, không nên đối lập giữa tâm với cảnh; đồng thời, cần phải từ bỏ một đối lập khác như phàm và thánh,… Phải bỏ sự đố kỵ thì mới thật sự là giác ngộ; chỉ bỏ được cách nhìn phân đôi đó, thì pháp giới mới bao dung được tất cả. Điều đó được thể hiện trong câu thơ:
 
                                              “ Đãn vong năng nhị kiến
 
                                                Pháp giới tân bao dung”
 
Tuy vậy, ý thức từ tâm sinh ra, Tuệ Trung Thượng Sỹ cho rằng, tâm ý thức đều không có gì cả, nghĩa là: Tâm là không thì Phật là gì? ông trả lời: “Tích vô Tâm, kim vô Phật”, nghĩa là “trước không tâm, nay không Phật”. Nhưng khi đã có Tâm rồi thì thế giới hiện ra, và Phật sẽ là:
 
                                             “ Vạn pháp chi tâm tức phật tâm
 
                                                                Phật tâm khước dữ ngã tâm hợp
                                          
                                               Pháp nhĩ như nhiên hoán cổ kim”
                                              
 
                      Tạm dịch:           Tâm của vạn pháp là tâm của Phật
 
                                               Tâm của Phật phù hợp với tâm ta
 
                                               Phép ấy vẫn tự nhiên xưa đến nay
 
Quan niệm về Phật và tâm của Tuệ Trung Thượng Sỹ có thể khái quát lại thành công thức như sau: Tâm vạn pháp = Tâm Phật = Tâm ta.
 
Theo quan niệm của Tuệ Trung Thượng Sỹ, vạn pháp chỉ thế giới quanh ta; tâm của vạn pháp là chuyển biến của vạn vật; vấn đề này được ông viết trong bài Phật tâm ca:
 
                                           “Xuân lại tự thi xuân hoa tiếu
 
                                            Thu đáo vô phi thu thuỷ thâm”
                    
         Tạm dịch:         Xuân đến tự nhiên hoa xuân nở
 
                                            Xuân sang ắt hẳn nước thu tràn
 
Đưa tâm của con người đến với tâm của vạn pháp tức là đến với qui luật của tự nhiên thành Tâm Phật, đó là nguyên tắc cuối cùng của Tuệ Trung Thượng Sỹ đã rút ra: sống theo qui luật tự nhiên thì mới giác ngộ và trở thành Phật. Cũng từ nguyên tắc đó, Tuệ Trung Thượng Sỹ đã bác bỏ điều răn kiêng ăn thịt, điều đó được thể hiện trong bài kệ dưới đây:
 
                                       “ Khiết thảo giữ khuyết nhục,
 
                                        Chúng sinh các sở thuộc,
 
                                        Xuân lai bách thảo sinh
 
                                        Hà sứ kiến tại phúc
 
                                        Trì giới kiên nhẫn nhục
 
                                        Chiêu tội bất chiêu phúc,
 
                                        Dục chiêu vô tội phúc,
 
                                        Phi trì giới nhẫn nhục,
 
                                        Như nhân thượng thụ thì.
 
                                        Như nhân bất thượng thụ
                                        Phong nguyệt hà sở vy.”
 
Tạm dịch: ăn cỏ hay ăn thịt là các loài khác nhau của sinh vật, điều ®ã cũng tự như mùa xuân đến là cây cỏ mọc lên, sao lại coi là tội hay phúc trong việc ăn cỏ hay ăn thịt. Bởi vậy, giữ điều răn và nhẫn nhục là hai điều chỉ mang đến tội chứ không mang lại phúc. Phải biết tội phúc đâu chỉ giữ lời răn và chịu nhẫn nhục. Giữ gìn, chịu đựng như vậy cũng giống như người đang ở dưới đất lại đi tìm cái nguy hiểm là trèo lên cây, nếu không trèo lên cây thì bão gió cũng không việc gì.
 
Có thể nói, Tuệ Trung Thượng Sỹ đã tìm đến quy luật tự nhiên và cảm thấy sự biện chứng của nó. Bởi vậy, Thiền Tuệ Trung trở thành Thiền nhập thế.
 
2. Ảnh hưởng tư tưởng Tuệ Trung Thượng Sỹ với Thiền Phái Trúc lâm Việt Nam
 
Tư tưởng về Phật và Tâm của Tuệ Trung Thương Sỹ ảnh hưởng lớn đến tư tưởng của Trần Nhân Tông - Tổ thứ nhất của Thiền Phái Trúc lâm. Sự ảnh hưởng đó được thể hiện rõ nhất trong các bài phú và thơ nôm của ông. Trong bài Cư trần lạc đạo, ông viết:
 
                                  “Bụt ở trong cuông(nhà)
 
                                  Chẳng phải tìm xa
 
                                  Nhân khây (quên) bổn, nên ta tìm bụt
 
                                  Đến cốc (biết) hay chính bụt là ta”
 
Trần Nhân Tông đề cao việc sống trong cõi tục, mà vẫn ngộ đạo, Ông viết:
 
                                  Trần tục mà nên, phúc ấy càng yêu hết sức
 
                                  Sơn lâm chẳng cốc (giác ngộ) họa kia thật cả uổng công”
 
Nội dung câu thơ trên toát lên ý: hãy sống với đời một cách thoải mái, từ đó có thể ngộ đạo, đó là nguyên tắc của Thiền Trúc lâm.
 
Cũng trong bài kệ Cư trần lạc đạo, Trần Nhân Tông lại viết:
 
                                  “Cư trần lạc đạo thả tuỳ duyên
 
                                  Cơ tắc xan hề, khốn thả miên
 
                                  Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch
 
                                  Đối cảnh vô tâm mạc văn thiền”
 
 
Tạm dịch:          “Ở trần vui đạo cứ tuỳ duyên
 
                                                Hễ đói thì ăn mệt ngủ liền
 
                      báu sẵn trong nhà đâu kiếm nữa
 
Vô tâm đối cảnh hái chi Thiền”
 
          Pháp Loa, Tổ thứ hai của Phái Thiền Trúc Lâm cũng viết về Tuệ Trung Thượng Sỹ như sau: "Hỗn tục hòa quang, dữ vật vị thường xúc gỗ " 
 
        Tạm dịch: " Hòa mình vào trần tục đối với mọi vật không hề xúc phạm, làm trái sẽ ngược lại ".
        Từ những vấn đề đã trình bày trên, có thể khẳng định rằng: tư tưởng Thiền của Tuệ Trung Thượng Sỹ, đã ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng Thiền của Trần Nhân Tông (Tổ thứ nhất ) và Pháp Loa (Tổ thức hai) của Thiền Trúc lâm Việt Nam. 
 
 
Ánh Chinh

 

Tư tưởng Thiền của Tuệ Trung Thượng Sỹ ảnh hưởng tới Thiền Phái Trúc lâm Việt NamTuy nhiên, khi nghiên cứu về Thiền phái Trúc lâm Yên Tử, không thể bỏ qua nhân vật quan trọng, có ảnh hưởng rất lớn đến tư tưởng của Thiền Trúc lâm Yên Tử, đó là Tuệ Trung Thượng Sỹ, người đã truyền thụ giáo lý Phật giáo cho Tổ thứ nhất Trần Nhân Tông. Vấn
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
Tìm hiểu về phẩm vị chức sắc trong đạo Cao đài
Tìm hiểu cơ bản về Islam (Hồi giáo)
Tờ Khai tịnh đạo – Tuyên ngôn thành lập đạo Cao đài
Hội Phật giáo Bắc kỳ với vấn đề vàng mã
Nguyễn Trường Tộ - Người Công giáo yêu nước và là triết gia lớn ở Việt Nam thế kỷ XIX
Lễ hành hương về Thánh địa Mecca của tín đồ Hồi giáo
Ý nghĩa đại lễ dâng y kathina của Phật giáo Nguyên thủy
Linh mục Phạm Bá Trực - mối quan hệ giữa đạo và đời
Công tác tôn giáo hiện nay-một số vấn đề đặt ra từ hệ thống chính trị ở nước ta
Khái quát về lịch sử truyền giáo và phát triển đạo Công giáo ở Việt Nam
Video
Toàn văn bài phát biểu của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc tôn giáo có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Bài phát biểu của Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ Vũ Chiến Thắng tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Hình ảnh
Một số hình ảnh của Đoàn Ủy ban Trung ương Mặt trận Lào xây dựng đất nước tại tỉnh Hà Nam, và tỉnh Quảng Ninh
Ngôi chùa hơn 150 tuổi mang nét kiến trúc Á - Âu ở Tiền Giang
Hình ảnh Cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc các tôn giáo có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Audio
Ông Bùi Thanh Hà, Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ trao đổi về vấn đề dâng sao giải hạn đang diễn ra tại một số chùa
Phỏng vấn Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Cần Thơ về công tác tuyên truyền, phổ biến Luật tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định 162/2017/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo tại địa phương


BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Đường Dương Đình Nghệ, P. Yên Hòa,Q. Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 0243 8 248 673 . Fax: 08041313
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn



Người chịu trách nhiệm chính: TS.Bùi Thanh Hà 
Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ

Đơn vị quản lý: Trung tâm Thông tin,
Ban Tôn giáo Chính phủ

Email:ttttbantongiao@chinhphu.vn