Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Ngày 19/09/2019 01:17 PM
Ấn phẩm sách
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 8/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 7/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 6/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 5/2019
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?















Chọn    Xem KQ
Hội Phật giáo Bắc kỳ với vấn đề vàng mã

    Tập tục đốt vàng mã đã phát triển rất phổ biến ở miền Bắc nước ta trước khi diễn ra phong trào chấn hưng Phật giáo.

        Trong tiểu mục Đốt mã, mục Tang ma, sách Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính xuất bản năm 1915 đã phản ánh tình trạng phổ biến và tốn kém của tục đốt mã ở những năm cuối của thế kỷ XIX và thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XX. Theo đó, “nhà thì đốt mã tại gia, nhà thì đốt mã tại chùa... Có nhà sắm đồ mã tốn đến năm bảy chục một vài trăm bạc”([1]).

Trong các thập niên 20 và 30 của thế kỷ XX, tình hình đốt vàng mã ở nước ta còn phát triển mạnh mẽ hơn. Phản ánh về hiện tượng này, năm 1932, trên tờ Khoa Học, Nguyễn Công Tiễu (1892-1976) đã có bài viết Đồ mã. Tác giả bài viết phản ánh:
 
“Mấy năm gần đây, ở xứ ta có một nghề rất phát đạt, ấy chính là nghề đồ mã. Sở dĩ nghề ấy được phát đạt vì nghề ấy dễ học, vì vật liệu dễ mua, nhất là vì nhiều người tiêu thụ.
 
Tuy đồ mã đã có từ lâu, nhưng nay mỗi ngày tiêu thụ tăng lên là tại trước kia chỉ những người có lòng tin mới dùng mà thôi, bây giờ lắm người vì sĩ diện mà cúng đồ mã vì trong tâm thực chẳng có lòng tin”([2]).
 
Đồ mã đương thời đa dạng về chủng loại, hiện đại về loại hình, tinh xảo về mỹ thuật. Chi phí cho đồ mã phụ thuộc vào sự đa dạng, sự hiện đại và sự tinh xảo của đồ mã.
 
Với quan niệm “trần sao âm vậy”, người ta đã đốt, đã hoá, đã gửi đủ loại đồ mã xuống cõi âm Phủ cho người thân, cho tổ tiên, trong đó chủ yếu là những vật dụng trong gia đình mà người thân khi còn sống thường dùng, chẳng hạn như: “... xe cao su, giường Hồng Kông, màn lan tiêu, đồ chè chén mẫu, chỗ ăn, chỗ ngồi đủ hết, không sót một thứ gì. Mà làm giống như hệt, làm hàng tháng mới xong, tốn kể bạc nghìn”([3]).
 
 
Trong một số trường hợp, có lẽ là ở những gia đình giàu có, đồ mã gửi xuống Cõi Âm cho người thân, ngoài những vật dụng thông thường, còn cả vật nuôi trong nhà lẫn con sen người ở.
 
Đánh giá về sự phát triển tràn lan và tác động tiêu cực của vàng mã đối với xã hội Việt Nam đương thời, thực xác đáng khi Nguyễn Công Tiễu cho rằng: “Nghề đồ mã càng phát đạt bao nhiêu, đồ mã làm càng tinh xảo bao nhiêu, ta càng buồn bấy nhiêu, vì có hại cho ta về nhiều phương diện”([4]).
 
 
Trước thực trạng đó, các nhà cải cách Phật giáo ở miền Bắc đã ý thức được rằng, vàng mã không những có hại đối với xã hội nhân quần mà còn có hại đối với phong trào chấn hưng Phật giáo. Do đó, vấn đề bỏ vàng mã đã được đặt ra ngay sau khi Hội Phật giáo Bắc kỳ được thành lập.
 
Khi bàn về thái độ với vàng mã, trong bài Vàng mã nên bỏ hay nên để? đăng trên Đuốc Tuệ, số 188-189, năm 1942, Phạm Văn Phụng đã khẳng định: “Cái mục đích của Hội ta (Hội Phật giáo Bắc kỳ) là "Chấn hưng Phật giáo", mà việc chấn hưng thì không gì bằng bài trừ những tập tục mê tín dị đoan nó đã làm đổ nát nền Phật giáo xứ ta. Ví bằng ta không tìm cách cấm giới những tục dị đoan ấy (vàng mã) đi thì ta không thể thực hành được công việc chấn hưng”([5]).
 
Sáng kiến bãi bỏ vàng mã của Trung ương Hội Phật giáo Bắc kỳ ngay lập tức đã nhận được sự đồng tình và sự cộng tác nhiệt thành của nhiều thành phần, từ các nhà tu hành, tiêu biểu là sư Trí Hải, đến các cư sĩ tại gia như Tuệ Quang, Nguyễn Trọng Thuật, Mẫn Trai, Trần Duy Vôn, Phạm Văn Phụng, Vũ Tự Tiệp, v.v... cùng đông đảo Phật tử, quần chúng tín đồ hội viên, và nhất là sự hợp tác đầy hiệu quả của các quan lại triều đình đương chức hay trí sĩ như Tổng đốc Vi Văn Định, Tổng đốc Nguyễn Năng Quốc, Tuần phủ Trần Văn Đại, v.v.
 
Hình thức tuyên truyền, vận động việc bãi bỏ vàng mã của các nhà cải cách Phật giáo ở miền Bắc khá đa dạng về hình thức và mức độ.
 
Về hình thức, hoạt động này chủ yếu được thực hiện trong nội dung các bài viết trên tờ Đuốc Tuệ, trong nội dung các buổi thuyết giảng, trong một số việc làm cụ thể khác của Trung ương Hội và các chi hội Phật giáo địa phương.
 
Về mức độ, hoạt động này bắt đầu từ những bài phân tích và khuyên nhủ giới xuất gia tu hành, Phật tử và nhân dân nên bỏ vàng mã. Thậm chí, quyết liệt hơn, để tỏ rõ tinh thần quyết tâm bỏ vàng mã, trong cuộc họp hội đồng Trung ương Hội Phật giáo Bắc kỳ diễn ra vào mùng 4 tháng 8 (âm lịch) năm 1942 tại chùa Quán Sứ, một ý kiến đã đề nghị "xin Hội đồng (Trung ương) ban phát ra một mệnh lệnh cấm giới những điều mê tín dị đoan, nhất là việc đốt vàng mã để cho các địa phương được tiện cách thi hành"([6]).
 
Thực ra, trước khi có lời đề nghị này, một số quan chức lớn là thành viên, thậm chí là Hội trưởng của Trung ương Hội hay các Chi hội Phật giáo địa phương như Tuần phủ Trần Văn Đại, Tổng đốc Nguyễn Năng Quốc, Tổng đốc Vi Văn Định, ở những mức độ khác nhau, đã thường xuyên đôn đốc Phật tử và nhân dân thực hành bỏ vàng mã([7]).
 
Để phục vụ cho chủ trương bỏ tập tục mê tín này, các nhà cải cách Phật giáo ở miền Bắc đã khảo cứu và đăng nhiều bài viết liên tục trên tờ Đuốc Tuệ về nguồn gốc của vàng mã. Theo đó, lịch sử vàng mã được tóm lược như sau: Hình thức này bắt đầu xuất hiện từ thời nhà Hạ (Trung Quốc) vào năm 2205 trước Công nguyên với tục lệ chôn theo người chết các Minh khí(còn được gọi là Quỷ khí) như đàn sáo, chuông khánh, trống, phách… Đến nhà Ân (năm 1765 trước Công nguyên), không chôn Minh khí mà chôn Tế khí (đồ thật) cho người chết.
 
Để hạn chế việc chôn vật dụng thật cho người chết, Nhà Chu (năm 1122 trước Công nguyên) chia xã hội ra làm 2 bậc: Quý và Tiện. Bậc Quý là từ quan đại phu đến Thiên Tử, được dùng cả Quỷ khí lẫn Tế khí. Bậc Tiện là từ sĩ phu đến thứ dân, chỉ được dùng Quỷ khí. Tuy nhiên, trên thực tế, với tầng lớp vua chúa và quan lại nhà Chu, đồ chôn theo người chết không những không giảm mà còn tăng lên, không những chỉ là Quỷ khí, Tế khí mà còn cả vợ con, người hầu,v.v... Những người bị chôn sống theo vua chúa được gọi là Tuẫn táng. Tục tuẫn táng bị phản đối, nên Xô linh, loại người làm bằng cỏ, được chế ra để thay thế người thật.
 
Dưới thời Chu Mục Vương (năm 1001 trước Công nguyên), do quan niệm Xô linh không có mỹ thuật nên Yển sư đã làm người giả từ gỗ, gọi là Mộc ngẫu, cũng còn được gọi là Dũng.
 
Nhà Hán, theo tinh thần của Nho giáo (Khổng Tử và Mạnh Tử) phản đối việc làm Mộc ngẫu và quay trở về với tục chôn đồ thật theo người chết. Sau khi cúng tế, vật dụng và tiền bạc thật được đem chôn xuống mộ, còn những người hầu kẻ hạ thì không chôn sống mà cho lưu cư tại mộ phần.
 
Dưới thời Đường, quan Trưởng sử Vương Dư đã làm ra tiền vàng bằng giấy để dùng trong đám ma, tế tự: chôn xuống mộ, rải bỏ dọc đường hoặc đem đốt đi. Dưới thời vua Ẩn Đế (năm 948), đồ mã trở nên kém phổ biến. Do vậy, Vương Luân (dòng dõi nhà Vương Dư) đã lập mưu với một người bạn giả chết để cứu nghề sản xuất vàng mã([8]).
 
 
Các nhà Phật học ở miền Bắc sau khi khảo cứu đã khẳng định, đồ mã có xuất xứ từ Trung Quốc rồi du nhập vào Việt Nam. Đây vốn không phải là một tập tục của Phật giáo. Thậm chí, theo Thích Trí Hải, trong Kinh Dược Sư của đạo Phật còn nói: "Thiêu tiền hóa mã, sát lục chúng sinh, tế tự quỷ thần, đãn tăng tội nghiệp, phản tổn thọ hĩ", nghĩa là đốt tiền và các đồ mã, cùng việc giết chóc chúng sinh để tế bái quỷ thần chỉ thêm tội nghiệp và chóng chết mà thôi, chứ không có ích lợi gì cả([9]).
 
Sau khi truy tìm nguồn gốc, các nhà cải cách Phật giáo ở miền Bắc đã đưa ra nhiều lí do để khuyên Phật tử và nhân dân bỏ vàng mã, trong đó có những lí do khá sắc bén, chẳng hạn:
 
Theo lệ, đồ mã chỉ đốt trong vòng 3 năm. Những năm sau đó không đốt vàng mã nữa thì vong hồn lấy gì mà dùng?
 
Trên thế giới, chỉ có hai nước là Trung Quốc và Việt Nam có tục đốt đồ mã gửi xuống cho vong hồn. Thử hỏi, nếu tin rằng dưới Âm Phủ có dùng đồ mã thì vong hồn của các nước khác dùng bằng gì?
 
Vàng mã chủ yếu được đốt trong lễ truy điệu. Mà ý nghĩa của lễ truy điệu là muốn báo đáp cho vong linh, tụng kinh Phật để vong hồn tổ tiên được về cõi Tịnh Độ. Theo kinh Phật, Tịnh Độ là nơi thanh tịnh và mọi thứ đều đầy đủ, cần gì phải gửi vàng mã. Nếu gia đình "cố tình" gửi vàng mã thì vong hồn tổ tiên lại phải từ cõi Tịnh Độ xuống cõi Âm Phủ để nhận([10]).
 
Vì những lẽ trên, và vì sự hưng thịnh của Phật giáo Việt Nam, vàng mã nên được vận động để loại bỏ. Tuy nhiên, vì là một tập tục lâu đời, nên quá trình vận động bỏ vàng mã đã gặp phải một số khó khăn. Ngay tại Hà Nội, trong những năm đầu của phong trào chấn hưng Phật giáo, vẫn có không ít thương gia hoặc người Hoa đốt vàng mã tại một số ngôi chùa([11]).
 
Một khó khăn khác mà chủ trương này gặp phải là sự chưa dễ dàng đồng tình của những người làm nghề sản xuất vàng mã, nhất là ý kiến cho rằng đây là một nghề kiếm sống của nhiều gia đình. Vũ Trọng Khiêm, một người làm nghề vàng mã, đã cự lại báo Đuốc Tuệ và những nhà cải cách Phật giáo với lập luận: “Nếu quả vàng mã là mê tín dị đoan thời sao từ trước tới nay trong các chùa tăng ni đều dùng cả. Phật giáo thịnh nhất như đời Lý, đời Trần mà cũng chưa thấy chỗ nào nói cấm đốt vàng mã? Vả chăng hiện nay trong xứ ta từ thành thị tới thôn quê biết bao sinh hoạt về nghề vàng mã. "Phú quý sinh lễ nghĩa". Người nghèo làm vàng mã cho người giàu cúng đốt đi. Đồng tiền trong dân gian nhờ thế mà được san sẻ. Nay quý ban cổ động bài trừ sự vàng mã khiến cho lòng tín ngưỡng của quần chúng phân vân, mà đưa dắt biết bao gia đình vào cảnh chơ vơ thất nghiệp”([12]).
 
Dẫu gặp một số khó khăn như vậy, nhưng chủ trương bỏ vàng mã trong Phật tử và nhân dân ở miền Bắc đã đạt được những kết quả đáng kể. Điều quan trọng hơn là tinh thần của chủ trương này dường như đã thấm sâu vào trong nếp nghĩ và hành động của một bộ phận đông đảo nhà tu hành, cũng như Phật tử và nhân dân đương thời, thậm chí cả những năm sau khi phong trào chấn hưng ở miền Bắc dừng lại vào năm 1954. 
 
Phong trào vận động Phật tử và nhân dân bỏ vàng mã của các hội Phật giáo ở miền Bắc giai đoạn 1934-1954 đạt được những kết quả đáng kể, theo chúng tôi, do mấy nguyên nhân chính sau:
 
Thứ nhất, phong trào có sự khởi xướng một cách quyết tâm và quyết liệt từ cấp trung ương các hội Phật giáo ở miền Bắc xuất phát từ nhu cầu làm lành mạnh hóa đời sống sinh hoạt tín ngưỡng của Phật tử và nhân dân, từ đó góp phần chấn hưng Phật giáo. Do đó, mong muốn chính đáng này của các hội Phật giáo ở miền Bắc đã nhanh chóng nhận được sự đồng tình của đông đảo Phật tử và nhân dân. Đây có thể nói là điều kiện tiên quyết dẫn đến sự thành công của phong trào vận động bỏ vàng mã.
 
Thứ hai, cách thức và phương pháp tiến hành vận động bỏ vàng mã của phong trào có nhiều điểm hợp lí, trong đó quan trọng nhất là việc tập trung tìm hiểu về nguồn gốc và ý nghĩa của vàng mã, cũng như công tác tuyên truyền sâu rộng bằng nhiều hình thức phong phú. Cách làm này tỏ ra có hiệu quả cao. Nó giúp Phật tử và nhân dân bỏ vàng mã một cách tự nguyện.
 
Thứ ba, phong trào bỏ vàng mã thành công còn do sự hợp tác đầy hiệu quả và trách nhiệm từ phía các nhà quản lý xã hội, cụ thể ở đây là những việc làm cụ thể của một số vị đại quan của triều đình nhiệt tâm với sự nghiệp chấn hưng Phật giáo. Chưa thấy những bằng chứng cụ thể chứng minh họ đã ra lệnh cấm đốt vàng mã như báo Đuốc Tuệ từng tuyên truyền. Nhưng một vài biện pháp hành chính bán chính thức nào đó rất có thể đã được các vị đại quan này áp dụng nhằm hạn chế sự đốt vàng mã của Phật tử và nhân dân./.
 

TS Lê Tâm Đắc



[1] Phan Kế Bính. Việt Nam phong tục. Nxb Hà Nội, 1999, tr.38-39.
[2] Dẫn theo: Lê Thị Hồng Phúc. Cần có giải pháp đối với vấn đề vàng mã-đồ mã, trong: Tín ngưỡng-Mê tín. Nxb Thanh niên, 1998, tr.178.
[3] Vũ Tự Tiệp. Bàn thêm về sự đốt mã. Báo Đuốc Tuệ, số 82, năm 1938, tr.26.
[4] Dẫn theo: Lê Thị Hồng Phúc. Cần có giải pháp đối với vấn đề vàng mã-đồ mã, trong: Tín ngưỡng-Mê tín. Nxb Thanh niên, 1998, tr.179.
[5] Phạm Văn Phụng. Vàng mã nên bỏ hay nên để. Báo Đuốc Tuệ, số 188-189, năm 1942,tr.30.
[6] Phạm Văn Phụng. Bài đã dẫn, tr.30.
[7] Mẫn Trai. Một việc cải cách lớn đã thực hành ở Chi hội Phật giáo Hải Dương. Báo Đuốc Tuệ, số 93, năm 1938, tr.35-38; Với việc thực hành bỏ vàng mã. Báo Đuốc Tuệ, số 97, năm 1938, tr.24-26.
[8] Nhàn Vân Đình Trần Duy Vôn. Đồ mã. Báo Đuốc Tuệ, số 103, năm 1939, tr.3-7; Thích Khánh Anh sao lục. Bàn về đồ mã (của Báo Đuốc Tuệ), trong: Thích Khánh Anh dịch. 25 bài thuyết pháp của Thái Hư Đại Sư. Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh, 1993, tr.389-342.
[9] Samôn Trí Hải. Bàn về sự đốt mã. Báo Đuốc Tuệ, số 75, năm 1937, tr.31.
[10] Thích Khánh Anh sao lục. Bàn về đồ mã (của Báo Đuốc Tuệ), trong: Thích Khánh Anh dịch. 25 bài thuyết pháp của Thái Hư Đại Sư. Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh, 1993, tr.402-404.
[11] Xem: Với việc thực hành bỏ vàng mã. Báo Đuốc Tuệ, số 97, tr.26.
[12] Cùng một vị độc giả chất vấn về việc bài trừ vàng mã. Báo Đuốc Tuệ, số 79, tr.1938, tr.8.
Hội Phật giáo Bắc kỳ với vấn đề vàng mãTrong tiểu mục Đốt mã, mục Tang ma, sách Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính xuất bản năm 1915 đã phản ánh tình trạng phổ biến và tốn kém của tục đốt mã ở những năm cuối của thế kỷ XIX và thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XX. Theo đó, “nhà thì đốt mã tại gia, nhà
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
Nguyễn Trường Tộ - Người Công giáo yêu nước và là triết gia lớn ở Việt Nam thế kỷ XIX
Lễ hành hương về Thánh địa Mecca của tín đồ Hồi giáo
Ý nghĩa đại lễ dâng y kathina của Phật giáo Nguyên thủy
Linh mục Phạm Bá Trực - mối quan hệ giữa đạo và đời
Công tác tôn giáo hiện nay-một số vấn đề đặt ra từ hệ thống chính trị ở nước ta
Khái quát về lịch sử truyền giáo và phát triển đạo Công giáo ở Việt Nam
Hồ Chí Minh với tín ngưỡng, tôn giáo ở thủ đô Hà Nội
Mấy suy nghĩ về sự tiếp tục đổi mới chính sách tôn giáo nhân dịp dự thảo Văn kiện Đại hội XI được công bố
PHÁT HUY NHỮNG TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA TỐT ĐẸP TRONG TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM
NGUỒN GỐC VÀ Ý NGHĨA ĐẠI LỄ HỘI YẾN DIÊU TRÌ CUNG CAO ĐÀI TÂY NINH
Video
Toàn văn bài phát biểu của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc tôn giáo có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Bài phát biểu của Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ Vũ Chiến Thắng tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Hình ảnh
Một số hình ảnh của Đoàn Ủy ban Trung ương Mặt trận Lào xây dựng đất nước tại tỉnh Hà Nam, và tỉnh Quảng Ninh
Ngôi chùa hơn 150 tuổi mang nét kiến trúc Á - Âu ở Tiền Giang
Hình ảnh Cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc các tôn giáo có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Audio
Ông Bùi Thanh Hà, Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ trao đổi về vấn đề dâng sao giải hạn đang diễn ra tại một số chùa
Phỏng vấn Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Cần Thơ về công tác tuyên truyền, phổ biến Luật tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định 162/2017/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo tại địa phương


BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Đường Dương Đình Nghệ, P. Yên Hòa,Q. Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 0243 8 248 673 . Fax: 08041313
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn



Người chịu trách nhiệm chính: TS.Bùi Thanh Hà 
Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ

Đơn vị quản lý: Trung tâm Thông tin,
Ban Tôn giáo Chính phủ

Email:ttttbantongiao@chinhphu.vn