Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Ngày 18/11/2018 03:13 PM
Ấn phẩm sách
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 10/2018
Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài
Tìm hiểu Tín ngưỡng thờ cá Ông ở xã An Thủy, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 9/2018
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?















Chọn    Xem KQ
Linh mục Phạm Bá Trực - mối quan hệ giữa đạo và đời

      Linh mục Phạm Bá Trực (1898-1954) là một nhân vật đặc biệt. Đặc biệt vì đó là linh mục đầu tiên tham gia cách mạng được giữ chức vụ cao trong bộ máy quyền lực của nước Việt Nam: Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội. Về sau, không linh mục nào có được vị trí đó. Đây cũng là đại biểu có nhiều văn bằng tiến sĩ nhất trong Quốc hội Việt Nam từ trước tới nay: ba bằng tiến sĩ.

            Và đó cũng là linh mục hiếm hoi (nếu không nói là duy nhất) khi tham gia Quốc hội được Giám mục bản quyền lúc đó là Giám mục Francois Chaize (tức Thịnh) cho phép. Khi còn là chủng sinh, Phạm Bá Trực được Giám mục Hà Nội là Pierre Jean Marie Gendreau (tức Đông) chọn gửi đi học trường Truyền giáo ở Rôma theo chủ trương của Toà thánh từ năm 1919, mỗi giáo phận chọn 1- 2 chủng sinh xuất sắc gửi sang Rôma để đào tạo chức sắc cao cấp cho giáo hội. Cùng khoá đầu tiên này ở Huế có Ngô Đình Thục, Phát Diệm có Đinh Ngọc San, Quy Nhơn có Nguyễn Đức Tín, Sài Gòn có Lê Văn Chánh... Họ tới Rôma cuối năm 1919. Năm 1925, thày Phạm Bá Trực được truyền chức linh mục ở Rôma và ở lại học tiếp cho đến cuối năm 1929 thì về nước và tham gia nhiều hoạt động kháng chiến chống Pháp. Đây cũng là điều đặc biệt vì quan điểm của Rôma lúc đó chống Cộng rất quyết liệt. Khi qua đời ngày 5-10-1954, lễ tang của linh mục Phạm Bá Trực đã được tổ chức theo nghi lễ quốc gia và điếu văn do chính Hồ Chủ tịch viết. Về sau cũng không có linh mục nào có được vinh dự đó. Để hiểu thêm về lòng yêu nước của linh mục Phạm Bá Trực, trong bài viết này, chúng tôi muốn phác thảo lại hoàn cảnh lịch sử, nhất là tương quan đạo-đời thời gian trước và sau các mạng tháng 8-1945.

 
1- Quan hệ đạo và đời trước cách mạng tháng 8-1945
 
Tương quan giữa Nhà nước trần thế và giáo hội, nhất là Giáo hội Công giáo xưa nay, ở đâu và bao giờ cũng là vấn đề nhạy cảm và phức tạp nhưng có thể phân thành ba dạng: quan hệ lợi dụng lẫn nhau; quan hệ chống đối, loại trừ nhau và quan hệ độc lập nhưng có cộng tác với nhau. Có thể khẳng định quan hệ giữa chính quyền và giáo hội trước cách mạng tháng 8-1945 ở Việt Nam cơ bản là hai tương quan lợi dụng lẫn nhau và chống đối loại trừ nhau.
 
Khi chủ nghĩa thực dân muốn bành trướng sang phía Đông để chiếm thị trường và thuộc địa hồi thế kỷ XVI-XIX, họ không thể không nhờ cậy để giáo hội cung cấp cho các thừa sai vừa để lo cho những người trên tàu “phần hồn” trong những ngày lênh đênh trên biển vừa giúp họ phiên dịch, tìm hiểu phong tục, tập quán các vùng đất mới vì nhiều giáo sĩ vốn được đào tạo bài bản tinh thông nhiều lĩnh vực. Về phía các dòng tu cũng muốn nhân các chuyến đi này để rao giảng Tin mừng cho những nơi còn sống “trong tăm tối”. Thế là cả chính quyền thực dân và giáo hội có chung lợi ích: Hương liệu và các linh hồn. Hơn nữa, thời kỳ này giáo hội đang chi phối thế giới. Giáo hoàng được coi là “vua trên hết các vua” nên Giáo hoàng Alexandre VI tháng 5-1493 đã ban sắc chỉ chia đôi các vùng đất mới cho hai nước Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha “toàn quyền xâm lăng, chinh phục, chiến đấu và khuất phục tất cả dân ngoại và kẻ thù của giáo hội…được toàn quyền chiếm cứ tất cả các vương quốc, các lãnh địa, vương hầu, đô hộ đất và tài sản của chúng; toàn quyền chiếm đoạt tất cả của nổi và của chìm của chúng và bắt tất cả chúng làm nô lệ vĩnh viễn”(1). Bởi vậy, trên các tàu buôn và cả tàu chiến từ phương Tây đến Việt Nam thường có mặt những giáo sĩ.
 
Khi Bồ Đào Nha suy yếu, chính quyền thực dân Pháp muốn chinh phục Đông Dương, họ đã phải nghĩ ngay đến việc đầu tư cho Hội truyền giáo Paris (MEP), được thành lập năm 1663. Nhà vua hứa ban một khoản bổng lộc trọn đời 1000 đồng vàng và về sau lên tới 3000. Công ty Ấn Độ (do nước Pháp lập để cạnh tranh với công ty Đông Ấn của Hà Lan) đã cam kết chuyên chở miễn phí các giáo sĩ và hành lý đến bất kỳ địa điểm nào ở Việt Nam và Trung Quốc. Còn các giáo sĩ thì hết sức ủng hộ mục tiêu “vừa mở mang giáo hội vừa làm giàu cho nước Pháp”.
 
Sự lợi dụng này không chỉ có ở chính quyền thực dân. Trước đó, khi cuộc nội chiến Đàng Trong-Đàng Ngoài xảy ra, cả hai bên đều muốn tăng thêm thế lực bằng cách liên hệ với phương Tây để mua vũ khí và giúp đỡ khi chiến sự xảy ra. Đầu mối họ nhắm tới lại là các giáo sĩ. Mặc dù chưa hiểu thế nào là đạo Công giáo nhưng năm 1578, Mạc Mậu Hợp đã cử phái đoàn qua Ma Cao mời các giáo sĩ Bồ Đào Nha đến giảng đạo và trợ giúp chống nhà Lê. Nhưng Ma Cao không có nhân sự nên lại phải gửi qua Manila và giáo sĩ B. Ruiz đã tới Việt Nam năm 1585 , được nhà Mạc đón tiếp rất trọng thị. Tại phía Nam, khi vua Lê Thế Tông còn nhỏ tuổi, bà Chúa Chèm nhiếp chính vào các năm 1579, 1580 và 1583, nhiều sứ giả cũng được cử đi Ma Cao. Tuy nhiên, theo sự phân chia của Toà thánh năm 1493 thì châu Phi, châu Á, trong đó có Việt Nam thuộc khu vực truyền giáo của Bồ Đào Nha nên Ma Cao cũng không đáp ứng được. Tại Chân Lạp, năm 1595, vua Chey- Chetta I cũng viết thư cho quan toàn quyền Philippine xin gửi giáo sĩ và binh lính sang trợ giúp nên 3 giáo sĩ dòng Đa Minh và 300 lính Tây Ban Nha đã đến Chân Lạp năm 1596, nhưng lúc này vua Chey- Chetta I đã bị phế truất nên phải quay về. Năm 1603, tân vương nước này là Srey-Sauryeper lại cầu cứu, nên ba thừa sai và 150 lính lại được cử đi…
 
Cuộc nội chiến càng gay gắt thì sự săn đón các giáo sĩ càng ráo riết hơn, nhất là khi vua Daifusanna của Nhật Bản ra chiếu chỉ cấm đạo, trục xuất các thừa sai Công giáo năm 1613 thì các giáo sĩ từ Nhật Bản dồn về Ma Cao và từ đó đến Việt Nam đông hơn. Năm 1626 J.Baldinotti cùng viên trợ lý đã đến Đàng Ngoài và được chúa Trịnh tiếp đón như thượng khách. Khi có những nghi ngờ về tôn giáo mới như tín hữu không được thờ cúng tổ tiên, chỉ được một vợ, một chồng nhất là nghi các giáo sĩ ngầm giúp Đàng Trong thì chúa cũng ra lệnh ngăn cấm dân chúng theo đạo hoặc trục xuất giáo sĩ. Thế nhưng lệnh này co dãn tuỳ theo sự có mặt của các tàu buôn nước ngoài. A. Rhodes viết: “Thế nhưng, như chúng tôi đã khám phá ra, nguyên nhân chính làm cho chúa cầm giữ chúng tôi ở lại trong nước đó là cùng với sự có mặt của chúng tôi thì có sự buôn bán với các thương gia người Bồ”(2).
 
Một điển hình của sự lợi dụng quan hệ đạo đời ở Việt Nam là trường hợp Nguyễn Ánh. Ông này bị nhà Tây Sơn truy đuổi và thoát chết nhờ sự che chở của Giám mục Pigneau de Behain (Bá Đa Lộc) tháng 9-1777. Giám mục Bá Đa Lộc thì toan tính dựng Nguyễn Ánh lên ngôi vua để ông ta có thể trở thành một “Constantin hộ giáo ở Việt Nam”. Giám mục hân hoan báo tin cho bề trên MEP ngày 10-7-1778: “Thật cảm ơn các cha đã gửi cho tôi hai thừa sai. Nếu vương tộc này tái lập được - như đã có nhiều dấu hiệu tốt thì tôi còn cần nhiều thừa sai nữa, vì tôi rất quen biết đặc biệt ông hoàng sẽ cầm quyền và các quan lớn. Xin quý cha cầu nguyện Chúa cho sự nghiệp này. Việc tòng giáo của Đàng Trong có thể tuỳ thuộc vào đấy”(3). Còn Nguyễn Ánh phải gửi cả con là hoàng tử Cảnh làm tin, nhờ Giám mục Bá Đa Lộc qua Paris để xin cầu viện nước Pháp. Với ủng hộ của MEP, hiệp ước Versailles đã được ký ngày 28-11-1787 mà đại diện cho nhà Nguyễn chính là Bá Đa Lộc. Hiệp ước này đã mở đầu cho sự can thiệp quân sự của Pháp vào Việt Nam. Sau này, vào những thời điểm khó khăn, chính quyền Pháp đã phải dựa vào uy thế của giáo hội. Ví dụ, cử D’Argenlieu vốn là tu sĩ dòng Tên sang làm Toàn quyền ở Đông Dương hòng lôi kéo sự ủng hộ của người Công giáo. Còn tướng De Lattre de Tasigny, năm 1951 đã nói với Giáo hoàng Piô XII: “Trong tất cả nước vùng Đông Nam Á, Việt Nam là nước có nhiều tín hữu Công giáo hơn cả, chừng 2 triệu. Nhờ vào số đông, nhờ vào uy tín của các vị chủ chăn của họ, người Công giáo ở đây có thể đóng vai trò quyết định. Nhưng việc bảo vệ đạo Công giáo tại Việt Nam gắn liền với sự hiện diện của Pháp. Bởi vì phải nhờ sự  hy sinh tình nguyện của nước Pháp mới có thể ngăn không để Việt Nam rơi vào quỹ đạo của cộng sản quốc tế”(4).
 
Một dạng quan hệ diễn ra khá dài giữa đạo và đời ở Việt Nam là quan hệ chống đối, loại trừ nhau. Sự chống đối này có từ thời chúa Trịnh. Theo sự giải thích của giáo sĩ Đắc Lộ, do xự xúi giục của các quan lại và phi tần lo sợ theo đạo chỉ được lấy một vợ nên Trịnh Tráng đã có văn thư cấm giảng đạo: “Các ngươi truyền cho thần dân của ta chỉ đựơc lấy một vợ mà ta thì muốn có nhiều con trung thành với ta. Từ nay các người hãy gạt đi đừng giảng đạo đó nữa. Nếu các người không tuân lệnh thì ta sẽ chém đầu các ngươi”(5). Tuy nhiên, sóng gió chỉ nổi lên dưới thời Tây Sơn. Lúc đầu Tây Sơn cũng cho các thừa sai tự do giảng đạo, xây nhà thờ và có tư liệu còn nói dòng dõi Tây Sơn cũng là người Công giáo. Nhưng khi Tây Sơn thấy các thừa sai ủng hộ nhà Nguyễn và cáo buộc Tây Sơn là quân phiến loạn. Hơn nữa, vua Quang Toản còn bắt được cả thư của Giám mục Bá Đa Lộc gửi Giám mục Laberte cuối năm 1797 kêu gọi giáo dân nổi dậy giúp Nguyễn Ánh. Kết quả đã có 5 sắc chỉ cấm đạo được ban hành dưới thời Tây Sơn (1775-1800).
 
 Nguyễn Ánh chịu ơn các giáo sĩ giúp mình giành lại ngôi vua. Nhưng khi đã tổ chức lễ quốc táng với đại ân nhân là Giám mục Bá Đa Lộc năm 1799, vua Gia Long đã ban chỉ dụ ngày 4-3-1804 kết tội đạo Công giáo là “đạo ngoại quốc, dị đoan làm mê hoặc ngu dân”. Song do có sự can gián của Tả quân Lê Văn Duyệt nên Công giáo vẫn còn được bình yên dưới thời Gia Long. Sau khi Lê Văn Duyệt qua đời tháng 8-1832, vua Minh Mạng rất cứng rắn với tôn giáo này. Vua thề trên giường bệnh: “Trẫm còn sống bao lâu, Trẫm còn căm ghét quân Giatô bấy lâu. Khi khỏi bệnh, Trẫm thề tiêu diệt hết bọn đó”(6). Hòa ước Nhâm Tuất 5-6-1862 có làm cho đạo Công giáo được dễ thở chút ít nhưng phong trào Văn Thân lại nổi lên và cuộc khởi nghĩa Giáp Tuất 1874 với khẩu hiệu “bình Tây, sát tả” càng làm cho không khí đạo đời thêm ngột ngạt…
 
Có nhiều lý do dẫn đến thái độ này của nhà Nguyễn như vấn đề thờ cúng tổ tiên, mối nguy cơ xâm lược của thực dân Pháp và sự dính líu của các thừa sai vào chính trị… Nhưng còn có cả vấn đề về quyền uy nữa. Các vua Việt Nam vốn theo Nho giáo, tự coi mình là “thiên tử”, thay trời trị dân, thay dân tế trời. Dân chúng phải phục tùng vua mọi điều kể cả niềm tin tôn giáo. Vậy mà Công giáo lại dạy Chúa là trên hết, chỉ thờ Chúa duy nhất, các đạo khác đều là “đạo dối” cả thì sao mà xung đột không xảy ra? Giáo sư SV. Rojo viết rất đúng về các thể chế phong kiến ở phương Đông: “Ở đây vẫn luôn ngự trị đạo của vua là đạo của cả nước (cuius regio, eius religio). Chuẩn ở đây là tôn giáo của thần dân phải là tôn giáo của quân vương. Phát thệ một đức tin tôn giáo nào đó thay vì một đức tin tôn giáo khác sẽ kéo theo một nội hàm chính trị tức thì”(6). Với quyền lực trong tay, nhà nước phong kiến dễ dàng huy động sức mạnh để trấn áp “sự khác” đó. Và hệ luỵ của những xung đột đó còn là vết hằn sâu trong lịch sử cũng như ám ảnh trong tâm trí của nhiều người Việt cả Công giáo và không Công giáo cho đến tận hôm nay.
 
Cũng cần nói thêm rằng, ngay dưới chính quyền thực dân Pháp, không phải quan hệ đạo - đời lúc nào cũng êm thấm nhất là sau cuộc cách mạng Pháp 1876, không khí bài Công giáo gia tăng ở chính quốc. Đã có những báo cáo đòi thay đạo Công giáo ở Việt Nam bằng đạo Tin lành do quan chức Pháp ở Đông Dương đề nghị. Cũng đã có phương án Nhà nước thay Công giáo điều hành các cơ sở từ thiện, song do vấn đề chi phí tài chính lớn mà phải dừng lại. Giám mục Mossard coi sóc địa phận Tây Đàng Trong báo cáo với Rôma ngày 15-11-1906 đã nói thẳng ra rằng: “Mấy năm qua, chính quyền Đông Pháp và trên họ là chính phủ Pháp, chỉ bận tâm phá hoại tôn giáo. Liệu Chính phủ ấy có vì mối nguy chính trị mà tự chế chăng? Không thấy lý do gì để tin được như vậy. Vì thế, chúng tôi phải sẵn sàng để chứng kiến các đạo luật ấy, áp dụng ở đây, hạn chế phát triển tôn giáo”(7). Còn Bollaert-Toàn quyền Pháp ở Đông Dương ngày 9-6-1951 cũng hối thúc viên cao uỷ Bernard de Latre de Tassigny phải mạnh tay với các Giám mục Việt Nam “bắt cá hai tay” sau khi quân Pháp bị đánh tơi bời ngay ở vùng Công giáo Ninh Bình: “Anh cần phải áp dụng chính sách cứng rắn với các Giám mục. Phải chấm dứt cái trò đi hàng đôi ghê tởm này đã gây ra sự bất ngờ ở Ninh Bình và nếu anh không ra tay chặn lại, nó sẽ còn gây cho chúng ta nhiều tổn thất hơn nữa”(8).
 
2- Quan hệ giữa Công giáo và Nhà nước Việt Nam từ tháng 8-1945 đến năm 1954.
 
Có thể nói, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã đem đến một bầu khí mới cho cả dân tộc ta trong đó có cả quan hệ đạo và đời. Người Công giáo Việt Nam dưới chế độ thực dân, phong kiến bị hai tầng áp bức của cả đạo và đời. Vì vậy, họ cũng muốn giải phóng dân tộc để giành lại độc lập cho Tổ quốc và độc lập cho chính cả đạo Công giáo ở Việt Nam. Đây là mơ ước của nhiều người Công giáo Việt Nam mà Nguyễn Trường Tộ (1830-1871) đã thay mặt nói lên từ thế kỷ XIX: “Năm trước, tôi đã bẩm miệng với quan Thượng thư Bộ binh và Bộ hộ, muốn nhân lúc đi Tây mà xin với Giáo hoàng, rút giáo sĩ Pháp về và giao cho giáo sĩ nước ta trông nom hoàn toàn việc đạo giáo”(9).
 
Điều may mắn cho dân tộc Việt Nam và cho cả đạo Công giáo Việt Nam là có một lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh đã sớm nhìn ra sự khát khao tự do của người Công giáo. Khi gặp linh mục Cao Văn Luận ở Paris mùa hè năm 1946, Hồ Chí Minh đã nói: “Trong giáo hội Công giáo tại Việt Nam chưa có sự độc lập. Trên toàn quốc có 15 địa phận mà chỉ có 2 địa phận do Giám mục người Việt coi sóc, còn tất cả các địa phận khác đều ở trong tay người nước ngoài. Tôi nghĩ rằng, những linh mục trẻ tuổi như ông phải hành động một trật với chúng tôi, là đòi cho được sự độc lập của các địa phận Việt Nam”(10).
 
Người Công giáo hiểu rất rõ ràng rằng, đất nước có độc lập, tôn giáo mới có tự do. Cho nên khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời với cương lĩnh “đánh đổ chủ nghĩa đế quốc Pháp và bọn phong kiến làm cho nước Nam hoàn toàn độc lập” lập tức đã có sức cuốn hút nhiều tầng lớp nhân dân Việt Nam trong đó có đồng bào Công giáo. Không chỉ những người Công giáo ở trong nước mà cả những linh mục tu sĩ người Việt đang du học ở nước ngoài cũng hết sức ủng hộ Chính phủ Hồ Chí Minh với bản tuyên ngôn độc lập bất hủ ngày 2-9-1945. Linh mục Phạm Bá Trực đi tham gia kháng chiến ủng hộ cách mạng cũng trong bối cảnh đó.
 
Song nếu chỉ có mục tiêu độc lập dân tộc vẫn chưa đủ làm cho đồng bào các tôn giáo trong đó có Công giáo tin, theo và gắn bó với cách mạng sắt son như thế. Cơ sở của niềm tin yêu ấy chính là thái độ ứng xử của Nhà nước Việt Nam mới mà người đứng đầu chính là Chủ tịch Hồ Chí Minh.
 
Ngay sau ngày đọc Tuyên ngôn độc lập, ngày 3-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã long trọng tuyên bố: “Thực dân và phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào Giáo và đồng bào Lương, để dễ thống trị. Tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố: Tín ngưỡng tự do và lương giáo đoàn kết”. Không chỉ tuyên bố suông, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký nhiều văn bản pháp quy trong đó có Sắc lệnh 234-SL ngày 14-6-1955 nổi tiếng mà các điều khoản của nó đến nay vẫn thời sự, nhằm thực sự đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Nhiều ngày lễ của các tôn giáo được coi là lễ nghỉ của cả nước. Ví dụ Sắc lệnh 22C ngày 18-2-1946 quy định 6 ngày lễ tôn giáo các công sở được nghỉ thì có 3 ngày của Công giáo là lễ Phục sinh, lễ Các thánh và lễ Giáng sinh.
 
Điều gây ngạc nhiên cho đồng bào các tôn giáo là Hồ Chí Minh cũng là người cộng sản với thế giới quan duy vật mà “chủ nghĩa duy linh và chủ nghĩa duy vật là ngược nhau” nhưng Hồ Chí Minh khác với những người cộng sản ở nhiều nước thời đó là lại hết sức đề cao những giá trị nhân văn của các tôn giáo cũng như đạo đức của những người sáng lập tôn giáo. Với riêng Công giáo, hầu như năm nào bất kể công việc kháng chiến bộn bề, Hồ Chủ tịch vẫn gửi thư chúc mừng Giáng sinh đến giới Công giáo. Thư chúc mừng Giáng sinh đầu tiên sau ngày độc lập viết: “Cách đây một nghìn chín trăm bốn mươi nhăm năm trước, cũng ngày hôm nay, một vị thánh nhân là Đức Chúa Giêsu ra đời. Suốt đời Ngài chỉ hy sinh phấn đấu cho tự do, cho dân chủ. Từ ngày Ngài giáng sinh đến nay đã gần 2000 năm, nhưng tinh thần thân ái của Ngài chẳng những không phai nhạt mà toả ra đã khắp, thấm vào đã sâu”(11).
 
Hồ Chí Minh đánh giá cao những giá trị nhân văn của các tôn giáo không phải theo kiểu xã giao của nhà chính khách mà là sự ghi nhận thực tâm. Hồ Chí Minh đã đưa ra một nhận xét sắc sảo làm sửng sốt nhiều học giả Mác xít : “Khổng Tử, Giêsu, Mác, Tôn Dật Tiên, chẳng có những ưu điểm chung đó sao? Họ đều muốn mưu hạnh phúc cho mọi người, mưu phúc lợi cho xã hội. Nếu hôm nay họ còn sống trên đời này, nếu họ hợp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau như những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy”(12). Chắc có người không đồng tình. Hồ Chí Minh muốn làm học trò của Mác, của Tôn Dật Tiên thì tốt thôi vì đó là những nhà cách mạng. Làm học trò của Khổng Tử cũng có thể chấp nhận được vì Hồ Chí Minh theo Nho học nhưng sao lại làm học trò nhỏ của Chúa Giêsu? Song đó mới là cốt cách Hồ Chí Minh để UNESCO ra nghị quyết tôn vinh là danh nhân văn hoá nhân loại năm 1990.
 
Trong rất nhiều bài nói chuyện, Hồ Chủ tịch luôn nhắc nhở cán bộ, bộ đội phải tôn trọng tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân. Người biểu dương anh Lý An là cán bộ dân vận ở Thanh Hoá không những giúp dân sản xuất mà còn giúp giáo dân trang hoàng nhà thờ trong dịp lễ trọng. Bản thân Người trong chiến khu cũng luôn nhắc nhở phục vụ lo chỗ làm lễ cho các linh mục đi kháng chiến. Nhưng Người cũng nghiêm khắc phê bình cán bộ: “Nói phát động quần chúng, phải nói đến đồng bào Công giáo. Thường cán bộ có thành kiến rằng, đồng bào Công giáo là lạc hậu, là khó vận động. Nói vậy là sai. Cha cố cũng có người kháng chiến như cụ Trực, cụ Kỷ và nhiều vị khác”(13). Cụ Trực được nhắc đến ở đây chính là linh mục Phạm Bá Trực. Người uốn nắn cán bộ, chiến sĩ vào nhà giáo dân không được nằm cho chân về phía bàn thờ, khi nói chuyện cũng phải thận trọng: “Đối với nông dân Công giáo, có người đã đưa chủ nghĩa Mác-Lênin ra giải thích. Nhiều cán bộ hễ nói với cha cố, không phân biệt tuổi tác, cứ gọi là thằng, làm cho đồng bào Công giáo khó chịu”(14).
 
Người đặc biệt quan tâm đến đồng bào Công giáo. Mỗi chuyện buồn vui của Giáo hội, Người đều có thư chia sẻ. Người chúc mừng linh mục Nguyễn Duy Lộc (từng ở Thái Nguyên nhiều năm) chạy thoát ra vùng tự do theo kháng chiến năm 1946, khen linh mục Lê Văn Yên ở Bắc Ninh vừa có tinh thần đại đoàn kết vừa biết giúp đỡ thương binh, làm thơ mừng cụ Hà Văn Quận giáo dân ở Nghệ An thọ 120 tuổi, đi thăm các Giám mục Ataraz ở Bắc Ninh, linh mục Mayor ở Bắc Giang, cử đoàn cán bộ cao cấp về dự lễ tấn phong Giám mục Lê Hữu Từ và đầu năm 1946 Người đích thân về Phát Diệm để mời Giám mục Từ ra làm cố vấn tối cao cho Chính phủ. Người đau buồn khi nghe tin Giám mục Hồ ngọc Cẩn (Bùi Chu) qua đời và viết lá thư thấm đẫm nước mắt chia buồn với bác sĩ Vũ Đình Tụng-Bộ trưởng Bộ y tế (cũng là người Công giáo) khi con trai của ông hy sinh tháng 1-1947. Và Người đã vô cùng xúc động khi nghe tin “người bạn thân mến” là linh mục Phạm Bá Trực qua đời để viết ra bản điếu văn nhờ Bộ trưởng Phan Anh đọc ở lễ an táng linh mục sáng ngày 7-10-1954 tại Đại Từ, Thái Nguyên.
 
Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở cán bộ không được hẹp hòi trong việc ứng xử với đồng bào các tôn giáo và chính người đã nêu gương sáng. Trong các phiên họp thời kỳ đầu của Chính phủ bàn rất nhiều đến vấn đề tôn giáo. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khuyến khích để các Giám mục Việt Nam gửi thư cho Toà thánh và cộng đoàn Công giáo thế giới ủng hộ độc lập của Việt Nam. Người cũng đề nghị để nhiều đại biểu Công giáo vào giữ các chức vụ cao cấp như Giám mục Lê Hữu Từ, Hồ Ngọc Cẩn, nhân sĩ Ngô Tử Hạ, bác sĩ Vũ Đình Tụng, thạc sĩ Nguyễn Mạnh Hà, linh mục Phạm Bá Trực…Người có quan điểm ứng xử mềm dẻo với các vấn đề tôn giáo như việc khoan hồng cho 300 nguỵ binh Công giáo bị bắt cuối năm 1951. Vụ trả tự do cho 7 giáo dân ở Văn Hải, Phát Diệm bị bắt vì tội chống chính quyền hồi tháng 1-1947 nhưng được Giám mục Từ xin bảo lãnh. Vụ cho phép linh mục Nguyễn Văn Ngọc ở Huế được mang lương thực vào tiếp tế cho 600 linh mục, chủng sinh đang bị kẹt giữa vòng vây của Việt Minh đầu năm 1949… Khi có căng thẳng trong quan hệ giữa Nhà nước và Giáo hội, Hồ Chí Minh bình tĩnh tìm nguyên nhân rồi phối hợp với các chức sắc cao cấp tìm cách hoá giải. Chẳng hạn, để giải quyết những vụ căng thẳng giữa đạo và đời tại Phát Diệm, Bùi Chu những năm 1947-1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư trao đổi và đích thân về gặp Giám mục Lê Hữu Từ. Sau khi chỉ rõ nguyên nhân, Người đưa ra giải pháp: “Một đằng, chúng ta cần giải thích cho người Công giáo hiểu rõ chủ trương, chính sách của Chính phủ như Đức cha đã làm. Đằng khác, cần giáo dục cán bộ của Chính phủ như bản thân tôi đang làm. Như vậy thì bọn gây rối sẽ không còn có thể chia rẽ chúng ta và sự đoàn kết toàn dân sẽ được thực hiện”(15). Đây có lẽ là kiểu mẫu trong việc giải quyết các vụ việc tôn giáo mà những người làm công tác tôn giáo vận ngày nay cần học theo nhất là đang hưởng ứng cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.
 
Thời linh mục Phạm Bá Trực sinh sống, thái độ của Rôma chống Cộng sản rất quyết liệt. Thông điệp Divini Redemptoris của Giáo hoàng Piô XI công bố ngày 19-3-1937 có đoạn: “Cộng sản bản chất là gian tà và không thể chấp nhận cộng tác trên bất cứ phạm vi nào đối với một người muốn cứu lấy văn minh Kitô giáo”. Còn Thư chung của các Giám mục Đông Dương ngày 9-11-1951 với chữ ký của 14 Giám mục trong đó có 4 người Việt lại viết: “Chủ nghĩa cộng sản bác bỏ Thiên chúa, bác bỏ mọi tôn giáo, bác bỏ thuyết linh hồn hằng sống, bác bỏ quyền lợi của con người và gia đình. Chủ nghĩa cộng sản xung khắc tuyệt đối với Công giáo đến nỗi Đức Thánh cha tuyên bố: không thể vừa theo cộng sản vừa theo Công giáo được và người Công giáo nào gia nhập Đảng cộng sản thì lập tức bị khai trừ khỏi giáo hội. Chẳng những không được gia nhập Đảng cộng sản mà anh em cũng không được cộng tác bất kỳ dưới hình thức nào để giúp họ nắm chính quyền”. Vậy mà linh mục Phạm Bá Trực - một người được đào tạo bài bản tại Rôma để thành chức sắc cao cấp của đạo Công giáo nhưng đã dứt khoát tạm gấp tu phục đi theo kháng chiến cùng với nhiều người Công giáo khác. Điều đó khẳng định quan điểm đúng đắn của Nhà nước Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo đã gây được lòng tin yêu của đồng bào các tôn giáo trong đó có cộng đồng Công giáo đối với cách mạng một cách vững chắc.
 
TS. Phạm Huy Thông (Hà Nội)
 
Chú thích:
1,4,10- Trần Tam Tỉnh: Thập giá và lưỡi gươm, Nxb Trẻ 1988, tr.15;tr.92; tr.78
2- A. Rhodes: Lịch sử vương quốc Đàng ngoài, Tủ sách Đại kết 1994, tr.142.
3,5- Launay: Histoire general de la Societe de Missions Etrangere, tom III, p.95; 83-84.
6- Viện Ngiên cứu tôn giáo: Về tôn giáo, tập I, Nxb. KHXH1994, tr.223
7- Dẫn theo Nguyễn ThếThoại: Công giáo trên quê hương Việt Nam, Lưu hành nội bộ, tập 2. 2001, tr.292.
8- Trần Thị Liên: De Lattre au Vietnam, Luận văn cao học, Paris 1987-1988, p. 143
9- Trương Bá Cần: Nguyễn Trường Tộ, con người và di thảo, Nxb T.p HCM 1990, tr.325
11,12,13,15- Huy Thông: Chủ tịch Hồ Chí Minh với đồng bào Công giáo, Nxb. CTQG 2004, tr.48; tr.325-326; tr.136; tr.81.
14- Hồ Chí Minh toàn tập, tập 7, Nxb. CTQG 1994, tr.232.
Linh mục Phạm Bá Trực - mối quan hệ giữa đạo và đờiVà đó cũng là linh mục hiếm hoi (nếu không nói là duy nhất) khi tham gia Quốc hội được Giám mục bản quyền lúc đó là Giám mục Francois Chaize (tức Thịnh) cho phép. Khi còn là chủng sinh, Phạm Bá Trực được Giám mục Hà Nội là Pierre Jean Marie Gendreau (tức Đông)
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
Công tác tôn giáo hiện nay-một số vấn đề đặt ra từ hệ thống chính trị ở nước ta
Khái quát về lịch sử truyền giáo và phát triển đạo Công giáo ở Việt Nam
Hồ Chí Minh với tín ngưỡng, tôn giáo ở thủ đô Hà Nội
Mấy suy nghĩ về sự tiếp tục đổi mới chính sách tôn giáo nhân dịp dự thảo Văn kiện Đại hội XI được công bố
PHÁT HUY NHỮNG TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA TỐT ĐẸP TRONG TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM
NGUỒN GỐC VÀ Ý NGHĨA ĐẠI LỄ HỘI YẾN DIÊU TRÌ CUNG CAO ĐÀI TÂY NINH
NGHI THỨC THỜ CÚNG TẠI GIA CỦA NGƯỜI TÍN ĐỒ CAO ĐÀI
ĐẠO CÔNG GIÁO VỚI THĂNG LONG - HÀ NỘI
Từ sự đổi mới nhận thức đến sự đổi mới về Chính sách Tôn giáo
Tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo – chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta
Video
Giao lưu văn nghệ nhân kỷ niệm 63 năm Ngày thành lập Ban Tôn giáo Chính phủ Ngày truyền thống ngành Quản lý nhà nước về tôn giáo(2/8/1955-2/8/2018)
Hành trình về nguồn đong đầy ý nghĩa
Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ trả lời Truyền hình VTC về “Hội thánh của Đức Chúa Trời Mẹ”
Hình ảnh
Một số hình ảnh ngôi đền cổ đại khắc từ một khối đá duy nhất
Tái hiện Lễ mừng lúa mới dân tộc Xơ Đăng tỉnh Kon Tum
Ngôi chùa hơn nửa thế kỷ “không nhang khói”...
Audio
Phỏng vấn Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Cần Thơ về công tác tuyên truyền, phổ biến Luật tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định 162/2017/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo tại địa phương
Ủy ban Mặt trận Lào Xây dựng Đất nước vận dụng những kinh nghiệm quản lý nhà nước về tôn giáo của Việt Nam
Một số điểm mới của Luật tín ngưỡng, tôn giáo


BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Đường Dương Đình Nghệ, P. Yên Hòa,Q. Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 043 8 248 673 . Fax: 08041313
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn



Người chịu trách nhiệm chính: Ông Dương Ngọc Tấn 
Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ
Email:  ttttbantongiao@chinhphu.vn