Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Ngày 19/09/2020 01:08 AM
Ấn phẩm sách
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 8/2020
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 7/2020
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 6/2020
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 5/2020
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?















Chọn    Xem KQ
NGHI THỨC THỜ CÚNG TẠI GIA CỦA NGƯỜI TÍN ĐỒ CAO ĐÀI

      Tín đồ tôn giáo là những người có niềm tin vào một tôn giáo, tuân thủ các quy định trong giáo lý, giáo luật của tổ chức tôn giáo và được tổ chức tôn giáo công nhận.

            Với đạo Cao đài, một người tự nguyện trở thành tín đồ của đạo Cao đài phải là người có niềm tin nơi Đức Cao đài tức là Đấng Ngọc Hoàng Thượng Đế, xin lập minh thệ và nhập môn vào đạo. Muốn xin nhập môn phải có hai tín đồ đạo đức, tiến dẫn, giới thiệu với đầu họ đạo; hai người tiến dẫn có trách nhiệm chỉ bảo, giúp đỡ người mới nhập môn, học giáo lý Cao đài. Người đứng đầu trong họ làm lễ cúng khai đàn trấn thần, an vị cho người mới vào đạo, từ đó  được gọi là tín đồ. Tín đồ theo đạo Cao đài tu theo ba bậc thực hiện việc giữ giới khác nhau: Hạ thừa, Trung thừa và Thượng thừa.

- Bậc Hạ thừa là những người (thường là tín đồ) tu tại gia, được lập gia đình, làm ăn sinh sống bình thường, buộc phải ăn chay mỗi tháng 6 ngày (lục trai) hoặc 10 ngày (thập trai), phải giữ Ngũ giới cấm, Tứ đại điều quy, Thế luật của đạo.
- Bậc Trung thừa là những người (thường là phẩm Lễ sanh) tuân thủ như bậc Hạ thừa, nhưng vừa duy trì cuộc sống sinh hoạt gia đình (tại gia) vừa xuất gia tu học tại các Thánh thất hoặc trung tâm Toà thánh, ăn chay từ 15 ngày trở lên (nửa tại gia, nửa xuất gia).
- Bậc Thượng thừa là những người (thường là chức sắc từ phẩm Giáo hữu trở lên) thực hiện "cắt ái ly gia", hiến thân trọn đời cho đạo, ăn chay trường, luyện đạo, tu hành ở Thánh thất hoặc Toà thánh.
Tín đồ Cao đài sau khi nhập môn phải lập bàn thờ (Thiên bàn) để thờ Đức Cao đài, Thiên bàn thường được đặt chung cùng bàn thờ (trang thờ) của gia đình tín đồ, hoặc có thể đặt riêng, tuỳ theo từng gia đình.
Thiên bàn là nơi trang trọng trong nhà, được lập bằng gỗ, đóng thành hai tầng­­. Trên Thiên bàn, tất cả có 9 món, xếp thành 3 hàng ngang nhau (theo kiểu đạo chuyển), chiếu đối theo hình Bát quái Hà đồ, được trình bày như sau:
  (1)
                                                (4)          (2)           (3)
                                                (6)          (7)           (5)
                                            (12)     (9-8-10)      (11)
 (1) Thiên Nhãn đặt giữa Thiên bàn và ở vị trí cao nhất;
 (2) Cây đèn Thái cực đặt ở giữa gọi là Thái cực đăng, được thắp sáng liên tục trên Thiên bàn, tượng trưng cho nguồn gốc của vũ trụ, là động năng nguyên thủy và vĩnh cửu phát sinh hai năng lực Âm Dương trong trời đất để hóa sinh muôn loài, vạn vật.
Thái cực đăng còn tượng trưng cho tâm đăng như Kinh Đại Thừa Chân Giáo có dạy: “Ngọn đèn các con thờ chính giữa đó là giả mượn làm tâm đăng, Phật Tiên truyền đạo cũng do đó, các con thành đạo cũng tại đó...”
(3) Bình hoa biểu hiện cho sự xanh tươi tốt đẹp, chỉ về tinh là hình thể con người. Năm sắc hoa là tượng trưng cho năm mầu da trên thế giới: vàng, trắng, đỏ, xanh, đen.
(4) Đĩa trái cây xếp theo vị trí âm dương, trái cây tượng trưng cho Hậu thiên Ngũ vị đối với Tiên thiên ngũ khí. Trái cây cũng biểu hiện cho người tu hành được thành công đắc quả.
(5-6) Hai bên trái và phải ngay trước bình hoa và đĩa trái cây là hai cây đèn Lưỡng Nghi. Cặp đèn Lưỡng nghi ứng với đèn Thái Cực ở giữa, bên trong, tượng trưng cho nguyên tắc hóa sinh của vũ trụ “Thái cực sinh lưỡng nghi”.
 (7) Chính giữa để Lư hương vừa đủ cắm 5 cây hương, khi hương tàn không bị rơi ra ngoài; Lư hương với 5 cây hương tượng trưng cho nơi qui tụ của ngũ hành (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ) còn gọi là Giới hương, Định hương, Huệ hương, Tri kiến hương, Giải thoát hương.
- Giới hương: nghĩa là phải giữ trọn giới cấm cho tâm mình trong sạch; do sợ luật luân hồi quả báo của trời, nên mới dấn thân vào đường tu niệm, khi vào đường tu niệm thì phải trọn giữ giới cấm cho tâm được trong sạch, tức là cây hương ở giữa.
- Định hương: nghĩa là phải thiền định cho tâm thần an tịnh; khi đó trọn giữ giới cấm rồi, thì phải học về Thể Pháp và Bí Pháp của đạo; lúc đó mới thiền định cho tâm thần an tịnh được, tức là cây hương ở phía bên trên, thuộc về Pháp.
- Huệ hương: nghĩa là thiền định rồi phát huệ; khi đã thiền định rồi, thì trở thành người có huệ sáng suốt, ấy là đoạt Pháp, tức là cây hương ở phía bên phải thuộc về Tăng.
- Tri kiến hương: nghĩa là phát huệ rồi gia công thêm nữa thì sẽ biết cái lẽ màu nhiệm của tạo hóa tức là đắc lục thông. Tri kiến, nghĩa là biết và thấy.
Khi đoạt Pháp rồi, thì sẽ thấy được thế giới vô hình, và biết được sự mầu nhiệm của Đức Chí Tôn, ấy là đã đoạt Đạo, tức là cây hương hàng ngoài bên trái.
- Giải thoát hương: nghĩa là giải thoát luân hồi quả báo; được giải thoát luân hồi quả báo, tức là đoạt đến phẩm vị Phật, tức là cây hương ở phía bên phải.
(9-8-10) Chính giữa đặt đĩa đựng ba ly rượu tượng trưng cho khí, khí là cái phách hay trí não của chúng ta, cũng là chính khí trong người.
Ba ly rượu là tượng trưng cho ba cõi: Hạ giới, Trung giới, Thượng giới, Phàm nhơn, Thần, Thánh, Tiên, Phật. Khi cúng rót rượu ba phân tượng trưng cho ba bậc tu hành: Hạ thừa, Trung thừa, Thượng thừa; và ba bậc trí thức là: Hạ lưu, Trung lưu, và Thượng lưu.
(11) Bên trái đặt chén nước trắng (bạch thuỷ: Dương).
Nước trắng: là Dương. Nước Dương là nguồn nước trên Trời mưa xuống để nuôi sống muôn loài, vạn vật.
(12) Bên phải đặt chén nước trà (âm).
Nước trà: là Âm. Nước Âm là nguồn nước ở trong lòng đất, và biển cả, sông ngòi, rạch suối. Người ở miền đất cao, thì đào đất sâu xuống làm giếng lấy nước uống và nấu ăn. Người ở vùng đất thấp đồng bằng, thì dùng nước biển, sông, suối, rạch, ngòi dù mùa mưa hay nắng hạn. Người vật cũng nhờ đó mà sống, nên chén nước trà để bên phải gọi là Âm.
Khi cúng phải mở nắp chén trà và chén nước trắng, cúng xong đậy nắp hai chén nước lại “Thâu pháp giới, Tận thâu pháp giới”, còn ba ly rượu thì để nguyên không đậy nắp.
Hoa - Rượu - Trà còn lần lượt tượng trưng cho Tinh - Khí - Thần mà đạo Cao đài gọi là Tam bửu tức ba món báu của con người.
Người tín đồ Cao đài hàng ngày có 04 khóa lễ vào các giờ Tý, Mão, Ngọ, Dậu (thời Tý từ 11 giờ đêm đến 1 giờ khuya, thời Mão từ 5 giờ sáng đến 7 giờ sáng, thời Ngọ từ 11 giờ trưa đến 1 giờ trưa, thời Dậu từ 5 giờ chiều đến 7 giờ tối); một ngày có 24 giờ, chia cho 12 tức là Thập Nhị Thời Thần, mỗi một thời có 2 tiếng đồng hồ.
Thời Tý: Đúng 12 giờ đêm là chính giữa của thời, là trung hoà chi đạo, là giờ giáp giới, ngày cũ hết, ngày mới bắt đầu, nên 12 giờ đêm 30 tháng 12 gọi là giờ giao thừa.
Thời Tý là thời cực Âm sinh Dương, do nhất điểm Dương sinh chi thủy, vân chuyển càn khôn hóa sinh vạn loại. Cúng thời này phải dâng rượu và sẽ được hưởng khí sinh quang làm cho khí phách được mạnh mẽ, trí não sáng suốt.
Thời Mão: là thời Ngươn Thần, sau những giờ định tịnh mà phát khởi biến hóa, sinh trưởng muôn loài, do Âm Dương vãng lai giao thời, gọi rằng Thủy Hỏa ký tế, vạn loài hữu sinh. Cúng thời này phải dâng trà và sẽ được hưởng Thần lực làm cho Chơn Thần được khoẻ mạnh.
Thời Ngọ: là thời Ngươn Khí có đầy đủ ánh sáng Dương quang, soi thấu cả nguồn sinh khí của toàn thể muôn loài, tức là cực Dương sinh Âm, là nguồn tịnh dưỡng Ngươn Khí, nên phải cúng rượu. Khi đó sẽ được hưởng khí sinh quang nuôi dưỡng khí phách được an tịnh.
Thời Dậu: là thời Ngươn Thần, Âm Dương giao thời, Thủy Hỏa ký tế, vạn loại toại yên, nên phải cúng trà và sẽ nuôi dưỡng Chơn Thần an tịnh.
Về lễ phục: Nam quần trắng, áo chẹt trắng và khăn đóng đen, có phái dùng khăn đóng trắng. Nữ quần trắng, áo chẹt trắng, không đội khăn.
Thiên bàn là nơi trang trọng, tôn nghiêm nên phải giữ cho tinh khiết và sạch sẽ. Mỗi thời, trước khi cúng phải vào Thiên bàn lau chùi sạch bụi và rút chân hương, phải mặc quần áo gọn gàng, sạch sẽ. Trên Thiên bàn lúc nào cũng phải có bông trái, để nhiều hay ít thì tuỳ, miễn có là được.
Còn cúng thì tuỳ giờ, thắp đèn trước rồi mới rót nước hoặc rót rượu. Khi thắp đèn thì thắp cây đèn phía bình hoa trước. Rót nước cũng vậy, rót chén nước phía bình hoa trước, khi đậy nắp nước rồi, phải rót lên trên nắp cho chảy xuống đĩa một chút để cho kiến khỏi leo lên chén. Còn rót rượu thì rót ly giữa trước, sau đó rót ly phía bình hoa rồi mới đến ly phía đĩa trái.
Khi làm xong mọi việc, đứng thẳng trước Thiên bàn, thắp 5 cây hương để nơi ngực niệm: NAM MÔ CAO ĐÀI TIÊN ÔNG ĐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT. Niệm rồi xá một xá đoạn đem hương cắm trên lư hương trên Thiên bàn.
Cách cắm hương như sau: Phía trong 3 cây ngang nhau, cắm cây giữa trước, sau đó cắm cây phía bình hoa rồi đến cây phía đĩa trái. Phía ngoài cắm 2 cây ngang nhau, cũng cắm cây phía bình hoa trước. Trên Thiên bàn, ngoài ra 5 cây hương thắp cúng tứ thời, nếu gia đình nào có điều kiện thì làm một cây ở giữa lư hương để thắp hương vòng cả ngày và đêm.
Sau khi sắp sếp xong đâu đó, người tín đồ quỳ trước Thiên bàn, chắp tay để giữa trán niệm Nam Mô Phật, chuyển sang bên thái dương trái niệm Nam Mô Pháp, sau đó chuyển sang bên thái dương phải niệm Nam Mô Tăng, rồi cúi niệm:
- Nam Mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát (Cúi đầu).
- Nam Mô Thường Cư Nam Hải Quan Âm Như Lai (Cúi đầu).
- Nam Mô Lý Đại Tiên Trưởng Giáo Tông Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ (Cúi đầu).
- Nam Mô Hiệp Thiên Đại Đế Quan Thánh Đế Quân (Cúi đầu).
- Nam Mô chư Phật, chư Tiên, chư Thánh, chư Thần (Cúi đầu).
Lạy 3 lạy, mỗi lạy gập đầu trên hai bàn tay xòe ra 4 cái (tượng trưng lạy trời 12 lạy), muốn cho gật khỏi thiếu hoặc thừa thì khi gật niệm câu NAM MÔ CAO ĐÀI TIÊN ÔNG ĐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT, mỗi gật niệm một câu, dứt câu là đủ 12 gật. Sau đó mới đọc các bài kinh theo mỗi thời cúng.
Những điều cần lưu ý:
Giờ cúng nào khăn áo cũng phải nghiêm chỉnh, không được thiếu sót, nhất là không nên mặc quần đen khi cúng.
Khi cúng xong, muốn tắt đèn phải dùng quạt hoặc làm một cái kẹp bằng thiếc mỏng để kẹp cho tắt, không được thổi./.
Nguyễn Ngọc Huấn
Chuyên viên Vụ Cao Đài

Ban Tôn giáo Chính phủ

NGHI THỨC THỜ CÚNG TẠI GIA CỦA NGƯỜI TÍN ĐỒ CAO ĐÀIVới đạo Cao đài, một người tự nguyện trở thành tín đồ của đạo Cao đài phải là người có niềm tin nơi Đức Cao đài tức là Đấng Ngọc Hoàng Thượng Đế, xin lập minh thệ và nhập môn vào đạo. Muốn xin nhập môn phải có hai tín đồ đạo đức, tiến dẫn, giới thiệu với đầu
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
ĐẠO CÔNG GIÁO VỚI THĂNG LONG - HÀ NỘI
Từ sự đổi mới nhận thức đến sự đổi mới về Chính sách Tôn giáo
Tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo – chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta
Tư tưởng Hồ Chí Minh về Công tác Tôn giáo
Video
Bài phát biểu của Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ tại Đại lễ Phật đản Phật lịch 2564, Dương lịch 2020
Phát huy vai trò của các tôn giáo trong việc bảo vệ môi trường ở Việt Nam
Hình ảnh
Bảo tàng không gian văn hóa Mường - nơi lưu giữ bản sắc dân tộc Mường
Ninh Thuận: Chiêm ngưỡng vẻ đẹp của tháp Chăm cổ Hòa Lai
Độc đáo Lễ cấp sắc Then 12 đèn của người Nùng ở Cao Bằng
Audio
TS. Bùi Hữu Dược, Vụ trưởng vụ Phật giáo, Ban Tôn giáo Chính phủ trao đổi về Công tác chấn chỉnh các hoạt động lệch chuẩn tôn giáo tại các cơ sở thờ tự của Phật giáo
Ông Bùi Thanh Hà, Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ trao đổi về vấn đề dâng sao giải hạn đang diễn ra tại một số chùa


BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Đường Dương Đình Nghệ, P. Yên Hòa,Q. Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 0243 8 248 673 . Fax: 08041313
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn

Người chịu trách nhiệm chính: Bà Trần Thị Minh Nga -
Phó Trưởng Ban
Đơn vị quản lý: Trung tâm Thông tin,
Ban Tôn giáo Chính phủ

Email:ttttbantongiao@chinhphu.vn