Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Ngày 18/09/2020 11:16 PM
Ấn phẩm sách
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 8/2020
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 7/2020
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 6/2020
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 5/2020
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?















Chọn    Xem KQ
ĐẠO CÔNG GIÁO VỚI THĂNG LONG - HÀ NỘI

              So với một số tôn giáo từ nước ngoài du nhập vào nước ta như tam giáo (Nho, Phật, Lão) thì đạo Công giáo xuất hiện ở Thăng Long - Hà Nội có tuổi đời còn rất trẻ, chưa đầy 400 năm. Số lượng giáo dân cũng không nhiều (hiện có hơn 175.000 người), nhưng người Công giáo Thủ đô có thể tự hào là đã góp phần tạo nên một sắc hương riêng cho vườn hoa của thành phố Hà Nội hôm qua và hôm nay.

            1.   Vài hàng lịch sử

Kể từ khi Lý Công Uẩn ban chiếu dời đô chọn Thăng Long làm kinh đô thì mảnh đất linh thiêng này có vị trí trung tâm về kinh tế, chính trị, văn hoá của nước ta đã tròn ngàn năm tuổi. Đây cũng là nơi sớm tiếp nhận Tin mừng ở Việt Nam. Theo sử sách ghi chép lại, năm 1626 linh mục Giuliano Baldinotti (người Ý) và tu sĩ Piani (người Nhật) đã đặt chân lên Kẻ Chợ. Đây là những giáo sĩ Công giáo đầu tiên có mặt ở kinh thành Thăng Long. Tuy nhiên, sau 5 tháng truyền giáo, do không biết tiếng Việt nên họ chỉ rửa tội được cho 4 đứa trẻ gần hấp hối. Công việc thất bại, họ quay về Ma Cao gửi thư cho dòng Tên ở Đàng Trong, đề nghị gửi người ra trợ giúp. Chính vì vậy, ngày 19-3-1627 hai giáo sĩ là Alexandre de Rhodes và Marquez đã đặt chân lên Cửa Bạng (Thanh Hoá) rồi theo đường thuỷ ra đất Thăng Long. Không biết chính xác thời gian hai giáo sĩ này đến Kẻ Chợ vì các ông vừa đi vừa truyền giáo cho dân cư dọc đường, chỉ biết năm 1627, lễ Giáng sinh đầu tiên của Công giáo đã được tổ chức trọng thể, nhưng tôn trọng phong tục ở xứ này. A. Rhodes (Đắc Lộ) ghi lại: “Chúng tôi mừng lễ Giáng sinh hết sức long trọng, nghĩa là chúng tôi bắt đầu rửa tội công khai mấy kẻ tân tòng, được tái sinh trong Chúa Kitô vào chính ngày người giáng sinh. Hơn nữa trong đêm Noel, giáo dân tân tòng sốt sắng và hoan hỷ hát các bài ca sinh nhật và các bài ca tôn giáo khác. Mà vì ban đêm, không cho phép phái nữ vào nhà thờ theo thuần phong mỹ tục xứ này, nên mới tảng sáng, họ đã dậy sớm và đến nhà thờ rất đông… Chúng tôi đều xúc động và cảm mến không sao tả được1. Chính quyền chúa Trịnh cũng trọng thị các giáo sĩ, cho làm nhà thờ, nhà thương và nhà ở của giáo sĩ ngay trong kinh thành. Người dân Thăng Long cũng thích thú với tôn giáo mới, nên trong vòng 3 năm ở đây đã có 5.600 người theo đạo với 4 nhà thờ đầu tiên được dựng ở Cầu Dền, Vũ xá, Quảng Bá và Đống Mác. Sau Đắc Lộ nhiều giáo sĩ tài ba tiếp tục đến Thăng Long như Gaspar D’Amaral (tháng 2-1631), Jêronimo Maiorica (1632), Antoine Barbosa (1635), Felix Morelli (1636), Joseph Tissanie (1658)…Vị linh mục người Việt đầu tiên đến coi sóc giáo đoàn Thăng Long là Bentô Hiền (1614-1686). Ngày 9-9-1659, Toà thánh thiết lập hai giáo phận Tông Toà ở Việt Nam và bổ nhiệm hai giám mục đầu tiên là F. Pallu và Lambert de la Motte cai quản Đàng Ngoài và Đàng Trong. Nhưng vì nhiều lý do, giám mục Pallu đã không thể tới Đàng Ngoài mà chỉ cử được đại diện là linh mục F. Deydier tới. Ngày 25-11-1679, Đàng Ngoài lại được chia hai thành Đông và Tây Đàng Ngoài. Thăng Long nằm trong địa phận Tây Đàng Ngoài do giám mục Bourger coi sóc. Năm 1895, địa phận Tây Đàng Ngoài lại chia hai và một địa phận mới là địa phận Đoài (tức Hưng Hoá) ra đời. Năm 1901, lại một sự phân chia nữa và xuất hiện địa phận Thanh (tức Phát Diệm). Ngày 3-12-1924, Toà thánh đổi tên các địa phận ở Việt Nam thành giáo phận theo tên hành chính sở tại và Tây Đàng Ngoài được đổi là giáo phận Hà Nội. Giám mục người Việt đầu tiên là Giám mục Trịnh Như Khuê (năm 1950) và sau này được tấn phong là Hồng y đầu tiên của Việt Nam (năm 1976). Toà Tổng giám mục Hà Nội có trụ sở tại 40 Nhà Chung, Hoàn Kiếm, Hà Nội. Đây cũng là trụ sở của Hội đồng giám mục Việt Nam và là nơi các Giám mục Việt Nam đã họp đại hội đầu tiên sau khi nước nhà thống nhất với lá Thư chung 1980 rất nổi tiếng vạch ra đường hướng đúng đắn của Giáo hội Công giáo Việt Nam là “Sống Phúc âm giữa lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào”.
Ranh giới hành chính của giáo phận Hà Nội (khoảng 7.000 km2) rộng gấp đôi so với địa giới của thành phố Hà Nội hiện nay (3.300km2). Người Công giáo trên địa bàn Thủ đô hôm nay sinh hoạt tại 3 giáo phận: Hà Nội, Hưng Hoá và Bắc Ninh. Phạm vi của bài này khi đề cập đến người Công giáo Thủ đô chỉ nói trên địa bàn của thành phố Hà Nội mà thôi.
 
2. Người Công giáo Thủ đô với văn hoá Việt
Văn hoá Việt có nhiều vùng miền nhưng văn hoá Thủ đô bao giờ cũng mang dấu ấn đặc trưng tiêu biểu nhất của quốc gia. Cho nên nói đến văn hoá Thủ đô Thăng Long - Hà Nội cũng là nói đến văn hoá Việt.
Có thể nói, những người Công giáo Thủ đô đầu tiên cũng là những người thiết tha với văn hoá dân tộc. Vì vậy khi gia nhập một tôn giáo xa lạ với văn hoá Việt là đạo Công giáo, họ đã sớm tìm cách cho tôn giáo này hội nhập với văn hoá dân tộc. Họ dùng thơ lục bát để diễn ca Kinh thánh, biết dùng lá dừa thay lá ôliu trong ngày lễ lá và ngày Tết vẫn trồng cây nêu trước nhà nhưng có cây Thánh giá bên trên. Các tên nước ngoài được Việt hoá. Ví dụ Deus được gọi là Đức Chúa Trời, Dominic gọi là Đa Minh, Alexandre de Rhodes gọi là Đắc Lộ…Nhiều bản kinh Công giáo mang đậm văn hoá Việt như bản kinh Mân Côi hay Phục dĩ chí tôn. Cũng chính tại Hà Nội đã xuất hiện những bài thánh ca lời Việt đầu tiên tức là dùng các làn điệu dân ca cổ truyền để dịch các bài hát Latinh vào những năm 40 của thế kỷ XX. Gần những ngày sục sôi cách mạng Tháng Tám 1945, tại phố Julien Blance (Phủ Doãn ngày nay), nhạc đoàn Lê Bảo Tịnh với các nhạc sĩ nổi tiếng cả trong đạo, ngoài đời như Hùng Lân, Tâm Bảo, Thiên Phụng, Nguyễn Khắc Xuyên… đã ra đời với một phương châm hoạt động đúng đắn: “Về nội dung: phụng sự Thiên Chúa và Tổ quốc, về nghệ thuật: lấy dân ca cổ truyền làm cơ sở cấu trúc âm thanh”. Hùng Lân có nhiều sáng tác nổi tiếng như Việt Nam minh châu trời đông, Khoẻ vì nước…được đề cử chọn làm Quốc ca Việt Nam hay nhạc hiệu thể dục buổi sáng. Khi chữ quốc ngữ được dùng bắt buộc ở Việt Nam năm 1910 thì nhiều giáo sĩ, giáo dân Công giáo vẫn dùng chữ Nôm, chữ Hán để ghi chép kinh sách, làm câu đối. Kho tàng chữ Nôm Công giáo do các giáo sĩ ở khu vực Hà Nội lưu giữ rất đồ sộ. Chỉ tính riêng của J. Maiorica (1591-1656) đã có 45 cuốn với trên 1.200.000 chữ. Giám mục PM. Gendreau (Đông), giám mục coi sóc địa phận Tây Đàng Ngoài (1887-1934) cũng để lại cả tập Thư chung bằng chữ Nôm (in ở Kẻ Sở năm 1924). Nhiều trí thức của đất nước trưởng thành từ các trường học Công giáo như Gendreau, Pasteur… và các cơ sở từ thiện do giới Công giáo đảm nhiệm như nhà thương Đồn Thủy, Hàng Bột, S.Paul…cũng đã góp phần làm dịu đi nỗi đau của nhiều người kém may mắn. Nhiều văn nghệ sĩ Công giáo đã khẳng định tên tuổi của mình trong xã hội như nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát, Lương Ngọc Trác, Hùng Lân, nhà thơ Hồ Dzếnh, Thế Lữ, nhà văn Nguyên Hồng, họa sĩ Lê Văn Đệ…
Người Công giáo Thủ đô một mặt sớm đưa đạo Công giáo hội nhập với văn hoá dân tộc trước cả Công đồng Vatican II hơn 300 năm, mặt khác cũng đưa những kiến thức khoa học và văn minh của phương Tây du nhập vào Việt Nam. Thông qua đạo Công giáo, nhiều bức tranh của các danh họa nổi tiếng thế giới như Đức mẹ đồng trinh của Rafael, Bữa tiệc ly của L. de Vinci hay các bản nhạc bất hủ Ave Maria, Holly Night, Jingle bell…rồi những kiến trúc cổ điển gotic, roman, basilique qua các ngôi nhà thờ và rất nhiều lễ hội mới như lễ Giáng sinh, Valentin…đã được giới thiệu cho dân chúng. Nhiều nhà thờ Công giáo hiện nay như Nhà thờ lớn Hà Nội, Cửa Bắc, Hàm Long cũng là những kiến trúc độc đáo thu hút khách tham quan khi đến Thủ đô. Các giáo sĩ như Đắc Lộ đã đưa hình học Euclide, thiên văn học, địa lý học giảng cho Trịnh Tráng nghe. Khi lập nhà thương ở Cầu Dền để chữa bệnh cho người nghèo, người Công giáo đã đem vào Thăng Long lối chữa bệnh mới là Tây y. Kỹ thuật in ấn, làm báo cũng do người Công giáo du nhập vào rất sớm. Nhà in Vĩnh Trị lập đầu thế kỷ XVIII, với cách in bằng con chữ rời đúc bằng đồng hay chì khác hẳn cách in truyền thống của ta là khắc gỗ. Năm 1584 nhà in ở Kẻ Nhàu (Tân Độ) được thành lập, máy in còn tinh xảo hơn. Nhiều nhà thờ, dòng tu đã có báo Công giáo từ rất sớm. Tờ Trung Hoà nhật báo là tờ nhật báo Công giáo đầu tiên ở Việt Nam ra đời năm 1923 đặt tại 33 Nhà Chung do ông Nguyễn Hưng Thi (Đông Bích) là chủ bút. Sau này tờ Thanh niên do các ông Phạm Đình Tân, Phạm Đình Khiêm lãnh đạo cũng có nhiều độc giả. Nhiều giáo sĩ Công giáo có công giới thiệu đất nước con người Việt Nam ra thế giới từ rất sớm khi nước ta còn chưa có tên trên bản đồ quốc tế ví dụ các cuốn Từ điển Việt- Bồ- La, Ngữ pháp tiếng Việt, Phép giảng tám ngày, Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài của Đắc Lộ in ở Roma năm 1651, Truyện nước An Nam Đàng Ngoài chí Đàng Trong, Nói sự Đàng Ngoài của linh mục Philipphê Bỉnh viết tại Bồ Đào Nha năm 1822…Với các tác phẩm này, nhiều người nước ngoài sẽ đặt ra câu hỏi tương tự như Đắc Lộ: “Tôi không biết vì sao đất nước rất xinh đẹp này lại không được biết tới, vì sao các nhà địa lý châu Âu không biết tên gọi và gần như không ghi trong bản đồ nào cả. Tuy họ chép đầy đủ tên các nước trên thế giới2.
 
3. Người Công giáo Thủ đô với công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước
Yêu nước là truyền thống của nhân dân Việt Nam nên lòng yêu nước cũng thấm đẫm trong huyết quản đồng bào Công giáo. Việc thúc đẩy đạo Công giáo hội nhập với văn hoá dân tộc và đem những tinh hoa của tôn giáo này đóng góp cho văn hoá Việt cũng chính là biểu hiện của lòng yêu nước nơi người Công giáo Thủ đô.
Khi Pháp tấn công thành Hà Nội năm 1873, hy vọng có nhiều giáo dân ở đây ủng hộ nhưng chúng đã lầm. Bởi vậy Garnier đã tức giận cho lính đốt phá hai làng Công giáo ở Hà Nội là Phùng Khoang (huyện Từ Liêm) và Thạch Bích (huyện Thanh Oai).
Cách mạng Tháng Tám 1945 như ngọn gió thổi bùng lên ngọn lửa yêu nước âm ỷ trong lòng người Công giáo, hơn 200 chủng sinh chủng viện Xuân Bích, dù chưa được phép của Bề trên là các giáo sĩ nước ngoài đã tham gia đoàn diễu hành ủng hộ Chính phủ Hồ Chí Minh trong ngày tuyên bố độc lập 2-9-1945. Một số người đã bị đuổi học và có người đã trở thành cán bộ cao cấp như Thiếu tướng Trần Tử Bình. Khắp các xứ đạo đều tổ chức mít tinh ủng hộ Chính phủ mới. Nhiều trí thức Công giáo Thủ đô đã tham gia Chính phủ Hồ Chí Minh như ông Vũ Đình Tụng - Bộ trưởng Y tế, ông Nguyễn Mạnh Hà - Bộ trưởng Kinh tế, ông Ngô Tử Hạ - Cố vấn Chính phủ, Bộ trưởng Cựu chiến binh, ông Nguyễn Đình Đầu - Tổng Giám đốc Tổng Nha lao động toàn quốc, linh mục Phạm Bá Trực là Phó Chủ tịch thường trực Quốc hội khoá I…Ngày 2-11-1946, Liên đoàn Công giáo đã tổ chức buổi cầu nguyện cho các liệt sĩ hy sinh vì Tổ quốc tại Nhà thờ lớn Hà Nội, Hồ Chủ tịch và nhiều cán bộ cao cấp đã đến dự. Thực dân Pháp quay lại cướp nước ta một lần nữa, theo lời kêu gọi của Bác, thanh niên Công giáo Thủ đô đã gửi thư lên Chính phủ thề hứa: “Chúng tôi xin tận tâm trung thành với Chính phủ và để ủng hộ Chính phủ theo tinh thần Công giáo,để xứng đáng là một công dân mới3. Hưởng ứng tinh thần “tiêu thổ kháng chiến”, linh mục Phạm Bá Trực đã đề nghị cho phá nhà thờ Hà Đông. Nhiều thanh niên Công giáo đã gia nhập Vệ quốc đoàn. Có người đã anh dũng hy sinh như anh Vũ Đình Thành con trai của bác sĩ Vũ Đình Tụng và được Bác Hồ gửi bức thư thấm đẫm nước mắt đến chia sẻ động viên tháng 1-1947.
Cuộc chiến đấu chống Mỹ cứu nước bùng nổ, hàng ngàn thanh niên Công giáo đã lên đường giải phóng miền Nam. Ngày 9-3-1966, hưởng ứng lời kêu gọi “Không có gì quý hơn độc lập tự do” của Hồ Chủ tịch, 300 linh mục tu sĩ, giáo dân Hà Nội đã họp mít tinh ra tuyên bố: “Chỉ có đánh đuổi đế quốc Mỹ xâm lược ra khỏi bờ cõi nước ta thì người Công giáo mới bảo vệ được sinh mạng, tài sản và thánh đường tôn nghiêm4. Đã có nhiều người Công giáo được phong tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang như: anh hùng Đỗ Văn Chiến, Phạm Quang Hạnh. Nhiều người là Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Nhiều trí thức Công giáo cũng có nhiều đóng góp trong các lĩnh vực khoa học, giáo dục được phong hàm Giáo sư, Tiến sĩ, Nhà giáo nhân dân hay được tặng Huân chương cao quý như các GS Vũ Văn Chuyên, Lương Tấn Thành, Phạm Văn Toản, Luật sư Dương Văn Đàm, Luật sư Trần Thị Phương Đức, bác sĩ Nguyễn Tấn Gi Trọng…
Trong công cuộc đổi mới hiện nay, nhiều xứ, họ đạo đang trở thành các điển hình tiên tiến về mô hình làng văn hoá như xứ Tân Độ, Chuôn Thượng (Phú Xuyên), làm kinh tế giỏi như Tây Tựu, Cổ Nhuế (Từ Liêm), làm từ thiện tốt như Thái Hà, Hàm Long, tu viện S.Marie, dòng Mến Thánh giá Hà Nội. Người Công giáo từ chỗ sợ làm giàu, ngại làm giàu đã vươn lên làm giàu cho mình, cho xã hội. Người có thu nhập hàng trăm triệu đồng/năm xuất hiện khắp nơi. Cá biệt có hộ thu nhập 500 triệu - 1 tỷ đồng/năm. Nhiều xứ họ có tổ chức khuyến học. Quỹ khuyến học mang tên linh mục Nguyễn Ngọc Bích cấp hàng trăm học bổng/năm với số tiền vài trăm triệu đồng. Nhờ vậy đã có nhiều con em người Công giáo trở thành kỹ sư, bác sĩ. Có gia đình ở Hoài Đức có 2 con là Tiến sĩ. Có người trở thành tấm gương sáng về ý chí vượt lên khó khăn, bệnh tật như anh Nguyễn Công Hùng bị liệt chân tay vẫn phấn đấu trở thành kiện tướng Công nghệ thông tin và là một trong 10 thanh niên tiêu biểu của cả nước được Chủ tịch nước khen thưởng năm 2009, hay anh Nguyễn Thanh Tùng - nạn nhân của chất độc màu da cam và bị khiếm thị từ nhỏ nhưng vẫn tự học để tốt nghiệp cao học âm nhạc và trở thành nghệ sĩ đàn bầu nổi tiếng trong nước và quốc tế.
Tóm lại, ngay từ khi đạo Công giáo có mặt ở Thăng Long đến nay, người Công giáo Thủ đô đã luôn đồng hành với dân tộc. Truyền thống đó được đắp xây bằng sự chung tay của cả cộng đồng. Để vun trồng truyền thống “tốt đạo, đẹp đời”. Trong công cuộc đổi mới hiện nay, đòi hỏi không chỉ là sự dấn thân để mỗi người Công giáo tốt, cũng là công dân tốt mà còn cần có sự quan tâm, tạo điều kiện của Nhà nước, của toàn thể xã hội nữa. Sự quan tâm đó không chỉ thể hiện bằng chủ trương, chính sách mà là những việc làm cụ thể. Chẳng hạn, quận Hai Bà Trưng đã hỗ trợ 500 triệu đồng để hai họ Trung Trí và Tân Lập xây sửa nhà thờ hay huyện Đông Anh giúp đỡ hơn 1 tỷ đồng xây nhà giáo lý rộng hơn 200m2 ở họ giáo Mai Châu sẽ là những chứng cứ thuyết phục về chính sách tôn giáo của Nhà nước và sẽ có tác dụng thật sự cổ vũ động viên người Công giáo Thủ đô đóng góp nhiều hơn nữa vào việc xây dựng thành phố Hà Nội ngày càng giàu đẹp, văn minh và thanh lịch hơn.
 
Hà Nội, kỷ niệm 1000 năm Thăng Long- Hà Nội
TS. Phạm Huy Thông
 
Chú thích:
1- A. Rhodes: Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài, T.P HCM 1994, tr.129.
2- A. Rhodes: Hành trình truyền giáo, T.p HCM 1994, tr.143.
3- Theo báo Cứu quốc ngày 28-10-1946.
4- Theo báo Chính nghĩa ngày 23-1-1966.
ĐẠO CÔNG GIÁO VỚI THĂNG LONG - HÀ NỘI1.      Vài hàng lịch sử Kể từ khi Lý Công Uẩn ban chiếu dời đô chọn Thăng Long làm kinh đô thì mảnh đất linh thiêng này có vị trí trung tâm về kinh tế, chính trị, văn hoá của nước ta đã tròn ngàn năm tuổi. Đây cũng là nơi sớm tiếp nhận Tin mừng ở Việt
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
Từ sự đổi mới nhận thức đến sự đổi mới về Chính sách Tôn giáo
Tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo – chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta
Tư tưởng Hồ Chí Minh về Công tác Tôn giáo
Video
Bài phát biểu của Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ tại Đại lễ Phật đản Phật lịch 2564, Dương lịch 2020
Phát huy vai trò của các tôn giáo trong việc bảo vệ môi trường ở Việt Nam
Hình ảnh
Bảo tàng không gian văn hóa Mường - nơi lưu giữ bản sắc dân tộc Mường
Ninh Thuận: Chiêm ngưỡng vẻ đẹp của tháp Chăm cổ Hòa Lai
Độc đáo Lễ cấp sắc Then 12 đèn của người Nùng ở Cao Bằng
Audio
TS. Bùi Hữu Dược, Vụ trưởng vụ Phật giáo, Ban Tôn giáo Chính phủ trao đổi về Công tác chấn chỉnh các hoạt động lệch chuẩn tôn giáo tại các cơ sở thờ tự của Phật giáo
Ông Bùi Thanh Hà, Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ trao đổi về vấn đề dâng sao giải hạn đang diễn ra tại một số chùa


BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Đường Dương Đình Nghệ, P. Yên Hòa,Q. Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 0243 8 248 673 . Fax: 08041313
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn

Người chịu trách nhiệm chính: Bà Trần Thị Minh Nga -
Phó Trưởng Ban
Đơn vị quản lý: Trung tâm Thông tin,
Ban Tôn giáo Chính phủ

Email:ttttbantongiao@chinhphu.vn