Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Ngày 21/08/2019 01:32 AM
Ấn phẩm sách
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 8/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 7/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 6/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 5/2019
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?















Chọn    Xem KQ
Hơn 60 năm người Công giáo thủ đô đồng hành cùng dân tộc

     Nếu tính từ ngày tổ chức tiền thân là Ủy ban Liên lạc Công giáo toàn quốc Việt Nam thành phố Hà Nội được thành lập ngày 27-4-1956 thì Ủy ban đoàn kết Công giáo Việt Nam thành phố Hà Nội đã trải qua lịch sử hơn 60 năm xây dựng và trưởng thành. Riêng Ủy ban ĐKCG Thành phố Hà Nội cũng có lịch sử bề dày 31 năm kể từ ngày được Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội ra quyết định công nhận, ngày 13-1-1986. Về vai trò và thành tích của Ủy ban ĐKCGVN Thành phố Hà Nội có lẽ đã được khẳng định qua phần thưởng mà Nhà nước trao tặng là Huân chương Lao động hạng nhất  (1990) cho giáo dân Thủ đô và Huân chương Lao động hạng ba (2013) cho Ủy ban ĐKCG thành phố. Rất nhiều cá nhân, tập thể của Ủy ban ĐKCGVN thành phố Hà Nội cũng được trao tặng nhiều Huân, Huy chương, Bằng khen cao quý. Nhân dịp tiến tới Đại hội VII “Người Công giáo Thủ đô xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” , chúng tôi xin trình bày khái quát hành trình hơn 60 năm đồng hành cùng dân tộc của người Công giáo Thủ đô.

     1-Vài nét về tình hình Công giáo của Thủ đô Hà Nội

       Thăng Long- Đông Đô- Hà Nội đã có một vị trí trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của nước ta từ hàng ngàn năm nay. Về mặt tôn giáo, đây cũng là mảnh đất sớm nhận được Tin Mừng ở Việt Nam. Theo giáo sử, năm 1626, linh mục Juliano Baldinotti người Ý và tu sĩ Piani người Nhật là hai thừa sai đầu tiên đặt chân lên Kẻ Chợ nhưng vì không biết tiếng Việt nên việc truyền giáo không thành công. Sau 5 tháng, họ chỉ rửa tội được cho 4 đứa trẻ hấp hối và phải quay về Ma Cao, gửi thư cho dòng Tên ở Đàng Trong xin trợ giúp. Năm 1627, hai giáo sĩ dòng Tên là Alexandre de Rhodes (tức Đắc Lộ) và Marquez từ Cửa Bạng (Thanh Hóa) ngược theo đường thủy ra Thăng Long. Không rõ bởi tài truyền giáo hay do dân Thăng Long- Kẻ Chợ ham học hỏi điều mới lạ mà số người kéo đến nghe giảng đạo rất đông. Năm 1627, đã có lễ Giáng sinh đầu tiên ở kinh thành Thăng Long Kẻ Chợ được tổ chức rất trọng thể. Trong vòng 3 năm, số giáo dân ở Thăng Long đã tăng thành 5600 người với 4 nhà thờ ở Cầu Dền, Vũ Xá, Quảng Bá và ô Đống Mác. Năm 1668, linh mục Bentô Hiền (1614-1686), một trong 4 linh mục đầu tiên là người Việt được truyền chức ở Thái Lan về coi sóc giáo đoàn Thăng Long.

       Giám mục người Việt đầu tiên cai quản Hà Nội là G.M Trịnh Như Khuê từ năm 1950. Năm 1960, Tòa thánh thiết lập hàng giáo phẩm Việt Nam, địa phận Hà Nội nâng lên hàng Tổng giáo phận và giám mục Trịnh Như Khuê cũng thành Tổng Giám mục và được phong lên bậc Hồng y tiên khởi của Việt Nam ngày 24-5-1976.

       Từ năm 1980, tòa TGM Hà Nội cũng là trụ sở của Hội đồng giám mục Việt Nam. Nơi đây cũng là ngai tòa của 4 Hồng y: G.M Trịnh Như Khuê (1899-1978), G.M Trịnh Văn Căn (1921-1990), P.M Phạm Đình Tụng (1919-2007) và Phêrô Nguyễn Văn Nhơn (1938- ?). Nơi đây cũng là trụ sở của Tòa Khâm sứ Đông Dương 1925-1929 và 1950-1959.

       Tính từ năm 1945 đến nay, địa giới hành chính của Hà Nội đã có 28 lần thay đổi. Trên địa bàn thành phố Hà Nội  (cũ) có 13 xứ, 49 giáo họ và hơn 4 vạn giáo dân sinh sống. Từ 1-8-2008, thành phố Hà Nội mở rộng bao gồm cả tỉnh Hà Tây cũ, huyện Mê Linh của Vĩnh Phúc và 3 xã của Lương Sơn, Hòa Bình nên giáo dân Hà Nội cũng tăng lên gấp hơn 4,5 lần trước đây với 6 giám mục, khoảng 140 linh mục,  gần 300 tu sĩ của 19 dòng tu và 195.000 giáo dân sinh sống trên địa bàn của 81 giáo xứ, 428 giáo họ thuộc 3 giáo phận Hà Nội, Hưng Hóa và Bắc Ninh. Trong đó thuộc Bắc Ninh có 7 xứ, 29 giáo họ, thuộc Hưng Hóa có 16 xứ, 130 giáo họ.

       Người Công giáo Thủ đô đã đồng hành cùng dân tộc ngay từ khi tôn giáo này có mặt ở Thăng Long- Kẻ Chợ cách đây 400 năm. Khi đón nhận một tôn giáo mới đến từ phương Tây xa lạ, mang đậm văn hóa châu Âu, những người Công giáo đầu tiên ở Thăng Long với tinh thần dân tộc đã làm cho tôn giáo này gần gũi hơn bằng cách đem văn hóa Việt choàng lên nó và đem lại một diện mạo mới cho đạo Công giáo tại Việt Nam. Trong lễ Lá, người ta đã dùng lá dừa thay lá ôliu. Ngày Tết cổ truyền, người Công giáo vẫn dựng cây nêu trước nhà nhưng có thêm Thánh giá ở trên. Đặc biệt , họ đã dùng thể thơ lục bát để ghi lại sự tích trong Kinh thánh vừa để dễ truyền bá với nhau khi trình độ dân trí thấp và rất ít người biết chữ Hán hay Nôm.

       Công giáo đến Thăng Long không chỉ mang đến đây những tri thức khoa học mới từ phương Tây, một tôn giáo mới mà là một lối sống mới nhất là thực thi lòng bác ái, yêu người. Người ta đã gọi cộng đoàn Công giáo đầu tiên ở Thăng Long- Kẻ Chợ là những người theo “đạo yêu nhau”. Một số nhà thương chữa trị theo lối Tây y được đặt Đồn Thủy. Một số cơ sở từ thiện do Công giáo điều hành từ rất sớm như cô nhi viện thời giám mục Puginier năm 1864 như trại phong Khuyến Lương năm 1880 (đến năm 1928 chuyển về Bắc Ninh), bệnh viện miễn phí ở Kẻ Sở năm 1903, nhà thương Hàng Bột năm 1896, nhà thương Saint Paul năm 1902. Về nhà trường, thời giám mục Puginier  đã có trường mang tên vị giám mục này năm 1893. Năm 1895 có thêm trường Sainte Marie cho nữ tu dòng Saint Paul de Charteres điều hành. Một báo cáo năm 1937-1938 cho biết Hà Nội có 9 nhà trẻ, 4 cô nhi viện, 4 bệnh viện, 2 nhà dưỡng lão chăm sóc 4998 trẻ, 2090 bệnh nhân và 900 cụ già cô đơn .

       Nhưng lòng yêu nước, tinh thần dân tộc của người Công giáo Thăng Long- Hà Nội thực sự được bùng cháy khi các mạng tháng 8-1945 bùng nổ. Trước đây, giai điệu, ngôn từ trong thánh nhạc là của nước ngoài. Với tinh thần dân tộc, tháng 7-1945, các nhạc sĩ Công giáo đã tập hợp lại để thành lập nhạc đoàn Lê Bảo Tịnh tại phố Julien Blance ( Phủ Doãn ngày nay) và đưa ra một tôn chỉ hết sức đúng đắn với tinh thần “ đồng hành cùng dân tộc” hiện nay là:  “Về nội dung phụng sự Thiên Chúa và Tổ quốc, về nghệ thuật lấy dân ca cổ truyền làm cấu trúc âm thanh” . Nhạc đoàn với sự chỉ huy của nhạc sĩ Hùng Lân đã cho ra đời nhiều nhạc phẩm  “tốt đời, đẹp đạo”. Nhiều bản nhạc như Rạng đông, Việt Nam minh châu trời đông, Khỏe vì nước…đã được cả cộng đồng đón nhận. Những ca từ dầy lòng yêu nước và tự hào dân tộc đã vang lên trong các bản thánh nhạc.

       Trong ngày Hồ Chủ tịch đọc tuyên ngôn độc lập, cùng với hàng vạn quần chúng Thủ đô Hà Nội, 200 chủng sinh trường Xuân Bích đã xuống đường tuần hành ủng hộ chính phủ Hồ Chí Minh bất chấp lệnh cấm của các thừa sai nước ngoài. Có những người đã bị đuổi học như Hùng Lân, Tâm Bảo, Thiên Phụng, linh mục Đỗ Tông (chính xứ nhà thờ lớn Hà Nội sau này) hay ông Trần Tử Bình (sau là Thiếu tướng quân đội)…Đóng góp vào lễ độc lập đó có công nhiều người Công giáo như lễ đài  theo thiết kế của họa sĩ Lê Văn Đệ, còn đoàn quân nhạc cử bài Tiến quân ca lại phần lớn là lính kèn khố xanh là người Công giáo, đã bỏ hàng ngũ của Pháp về với Việt Minh dưới sự chỉ huy của nhạc sĩ Công giáo Đinh Ngọc Liên.

       Không khí hồ hởi chào mừng độc lập dân tộc bùng nổ ở tất cả các xứ đạo của Hà Nội. Giáo dân tích cực tham gia mít tinh ủng hộ chính phủ mới. Cho nên trong Chính phủ, Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có rất nhiều gương mặt Công giáo như bác sĩ Vũ Đình Tụng- Bộ trưởng Bộ y tế; Thạc sĩ Nguyễn Mạnh Hà- Bộ trưởng Bộ kinh tế; Cụ Ngô Tử Hạ- cố vấn Chính phủ và Bộ trưởng cựu chiến binh; Linh mục Phạm Bá Trực, ba bằng tiến sĩ từ Rôma trở về là Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội khóa I…

       Cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ. Người Công giáo Thủ đô đã có nhiều hình thức để ủng hộ kháng chiến từ việc tham gian “Tuần lễ vàng” đến tổ chức lễ cầu nguyện cho các liệt sĩ và đồng bào đã hy sinh trong kháng chiến ngày 2-11-1946 tại nhà thờ lớn Hà Nội mà đích thân Hồ Chủ tịch tới dự. Nhiều thanh niên Công giáo đã gia nhập Vệ quốc đoàn “ quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” mà không ít người đã trở thành cán bộ cao cấp như nhà báo đại tá Đỗ Chí; nhạc sĩ, đại tá Lương Ngọc Trác…Đáp lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch:  “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, đồng bào Công giáo Thủ đô lại cùng đồng bào cả nước lên đường đánh Mỹ giải phóng miến Nam, thống nhất đất nước. Rất nhiều người Công giáo Hà Nội đã được ghi công trong hai cuộc kháng chiến. Theo thống kê, đã có 59 người được phong Bà mẹ Việt Nam anh hùng, 1144 liệt sĩ, 516 thương binh. Nhiều người được phong anh hùng lực lượng vũ trang như Đỗ Văn Chiến, Phạm Quang Hạnh. Nhiều người được phong GS, TS, NGND, TTND như GS Vũ Văn Chuyên, GS Lương Tấn Thành, GS Phạm Văn Toản, Luật sư Dương Văn Đàm, bác sĩ Nguyễn Tấn Gi Trọng…Nhiều văn nghệ sĩ Công giáo như NSND Trúc Quỳnh, nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát, nhà thơ Thế Lữ, Bàng Bá Lân, Nguyên Hồng, Hồ Dzếnh, Phạm Đình Khiêm, Phạm Đình Tân…là những người có tên tuổi trên văn đàn. Lá thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi bác sĩ Vũ Đình Tụng khi con trai ông là anh Vũ Đình Thành chiến đấu và hy sinh khi bảo vệ Chợ Hôm đầu năm 1947, hay điếu văn Chủ tịch Hồ Chí Minh viết và để Bộ trưởng Phan Anh đọc trong lễ tang linh mục Phạm Bá Trực ở Thái Nguyên năm 1954 là những ghi nhận của Nhà nước về công lao của người Công giáo Hà Nội với cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.

     2- Ủy ban ĐKCGVN thành phố Hà Nội ra đời và phát triển.

       Để quy tụ người Công giáo tham gia “ phụng sự Thiên Chúa và Tổ quốc” với nỗ lực của các ông Nguyễn Mạnh Hà, Nguyễn Đình Đầu- Thủ lĩnh phong trào Thanh lao công đã lập ra tổ chức lấy tên là Liên đoàn Công giáo Việt Nam- một tổ chức Công giáo tiến hành. Liên đoàn đã được Tòa thánh phê chuẩn điều lệ ngày 31-5-1946 và Khâm sứ Drapier cho phép hoạt động. Ngày 14-9-1946, sau khi xin ý kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng cũng ký sắc lệnh số 52/SL cho phép Liên đoàn hoạt động và lấy số 3 phố Nhà Chung làm trụ sở của báo “Liên đoàn”- cơ quan ngôn luận của Liên đoàn. Vừa ra đời, Liên đoàn đã tổ chức nhiều hoạt động cổ vũ lòng yêu nước như tổ chức lễ cầu hồn cho các liệt sĩ bỏ mình vì Tổ quốc ngày 2-11-1946 tại nhà thờ lớn Hà Nội. Liên đoàn tổ chức nhiều cuộc mít tinh của giới Công giáo Thủ đô. Đại hội  của thanh niên Công giáo Hà Nội họp ngày 25-10-1946, đã gửi quyết tâm thư lên Hồ Chủ tịch.

       Trước phong trào yêu nước của người Công giáo ngày càng phát triển, để tập hợp được phong trào, tạo ra sức mạnh cho cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc, tháng 3-1955, tại Hà Nội Ủy ban liên lạc những người Công giáo yêu Tổ quốc, yêu hòa bình đã ra đời do linh mục Vũ Xuân Kỷ là Chủ tịch. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp và nói chuyện với các đại biểu của Ủy ban ngày 11-3-1955. Gần 1 năm sau, ngày 27-4-1956, Ủy ban liên lạc những người Công giáo yêu Tổ quốc, yêu hòa bình Thủ đô Hà Nội được thành lập do cụ Ngô Tử Hạ - nguyên cố vấn cho Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Ủy ban đã phát động nhiều phong trào thi đua yêu nước trong đồng bào Công giáo như “ Tất cả vì miền Nam ruột thịt”, “ Tất cả cho tiền tuyến”… Một trong các thành tích của người Công giáo Thủ đô sau hòa bình lập lại là đấu tranh chống di cư vào Nam theo luận điệu tuyên truyền của địch. So với các giáo phận khác thì Hà Nội và Hưng Hóa có tỷ lệ giáo dân và linh mục di cư thấp nhất. Hà Nội có 25% giáo dân và 68% linh mục di cư. Hưng Hóa có 9% giáo dân và 45% linh mục di cư trong khi tỷ lệ bình quân là 40% giáo dân và 72% linh mục .

       Tổng kết 8 năm (1965-1973) chống Mỹ cứu nước cho thấy 84% xứ họ trên địa bàn Hà Nội đạt danh hiệu “xứ họ đạo tiên tiến”,75% các gia đình Công giáo Thủ đô có thành tích thi đua chống Mỹ cứu nước. Nhiều xứ họ đạt danh hiệu “ Tổ lao động XHCN” được tặng thưởng Huân huy chương các loại như xứ Đồng Trì  (Thanh Trì), HTX Nông nghiệp Thạch Bích (Thanh Oai) được vinh dự Bác Hồ về thăm ngày 2-12-1957…Ngày 10-10-1961, Đại hội “ Những người Công giáo Thủ đô yêu Tổ quốc, yêu hòa bình” họp đại hội lần hai, Hồ Chủ tịch đã đến phát biểu và chụp ảnh chung với các đại biểu.

       Khi miền Nam giải phóng, cả nước thống nhất, các giám mục Việt Nam ra Thư chung 1980 khẳng định đường hướng “ Sống Phúc âm giữa lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào”. Hoàn cảnh đó đã yêu cầu tổ chức yêu nước của người Công giáo Việt Nam phải đổi mới. Tháng 11-1983, Đại hội “ Những người Công giáo Việt Nam xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hòa bình” đã họp tại thủ đô Hà Nội để thành lập Ủy ban đoàn kết Công giáo yêu nước Việt Nam và đến năm 1990 đổi thành Ủy ban đoàn kết Công giáo Việt Nam. Tại Hà Nội, ngày 7-5- 1985, 250 đại biểu cùng 100 vị khách mời đã về dự lễ tại nhà thờ Hàm Long sau đó dự Đại hội I của Ủy ban ĐKCGYN Hà Nội bầu ra 49 Ủy viên Ủy ban trong đó có 10 vị thường trực do linh mục Lương Đình Nghi làm Chủ tịch. Các linh mục Đinh Tiến Cung, GS. Phạm Văn Toản và ông Phạm Văn Phi là Phó Chủ tịch. Từ đó đến nay, Ủy ban ĐKCG thành phố Hà Nội đã qua 6 lần đại hội. Đại hội II khai mạc ngày 5-1-1991 với 199 đại biểu chính thức. Đại hội đã bầu ra 55 vị Ủy viên trong đó có 10 vị thường trực do Linh mục Lương Đình Nghi là Chủ tịch. Các linh mục Đinh Tiến Cung, GS. Phạm Văn Toản, GS. Lương Tấn Thành, KS. Vũ Trọng Đăng và bà Đỗ Thị Kim Minh là Phó Chủ tịch. Đại hội III khai mạc ngày 11-9-1997. Đại hội bầu 69 ủy viên, 10 vị thường trực do GS. Phạm Văn Toản là Chủ tịch. GS. Lương Tấn Thành, KS. Vũ Trọng Đăng, bà Đỗ Thị Kim Minh là Phó Chủ tịch.   Năm 2000, GS. Phạm Văn Toản do sức khỏe yếu, xin từ nhiệm, hội nghị toàn thể đã bầu KS. Vũ Trọng Đăng kế nhiệm. Đại hội IV khai mạc ngày 30-12-2002 với 210 đại biểu và 130 khách mời bầu ra 69 vị ủy viên nhiệm kỳ 2002-2007 với 9 vị thường trực do KS Vũ Trọng Đăng là Chủ tịch. GS Lương Tấn Thành, bà Đỗ Thị Kim Minh là Phó Chủ tịch. Đại hội V khai mạc ngày 28 -7-2007, Đại hội quy tụ 141 đại biểu và bầu ra 90 ủy viên nhiệm kỳ 2007-2012, trong đó có 9 vị thường trực do KS. Vũ Trọng Đăng là Chủ tịch. TS. Phạm Huy Thông, ông Bùi Thế Vinh, bà Đỗ Thị Kim Minh là Phó Chủ tịch. Tháng 8-2008 Hà Nội mở rộng địa giới hành chính nên ngày 15-9-2008, hai Ủy ban ĐKCG thành phố Hà Nội và Hà Tây sáp nhập. Hội nghị đã hiệp thương và bầu linh mục Dương Phú Oanh, Chủ tịch UBĐKCG tỉnh Hà Tây là Chủ tịch Ủy ban ĐKCG thành phố Hà Nội mở rộng, KS Vũ Trọng Đăng là Phó Chủ tịch Thường trực. TS. Phạm Huy Thông, bà Đỗ Thị Kim Minh, bà Đỗ Thị Thái, ông Đỗ Năng Lực là Phó Chủ tịch. Đại hội VI tổ chức tháng 11-2012. Đây là đại hội đầu tiên của Hà Nội mở rộng. Linh mục Dương Phú Oanh- được bầu làm Chủ tịch Ủy ban ĐKCG thành phố Hà Nội. TS. Phạm Huy Thông là Phó Chủ tịch Thường trực, bà Đỗ Thị Thái, ông Nguyễn Văn Kết là Phó Chủ tịch. Nhiệm kỳ 2012-2017 này Ủy ban có 90 ủy viên trong đó có 9 vị Thường trực.

       Rõ ràng từ khi Ủy ban ĐKCG thành phố Hà Nội được thành lập năm 1985 đến nay, tổ chức này được củng cố ngày càng vững vàng hơn. Trong Thường trực UBĐKCGTP đã có nhiều gương mặt là nhân sĩ, trí thức là người Công giáo như GS. Lương Tấn Thành, GS. Phạm Văn Toản, Kỹ sư Vũ Trọng Đăng, TS. Phạm Huy Thông.  Điều này tạo ra hàm lượng chất xám nhiều hơn trong hoạt động của Ủy ban Hà Nội. Chính giám mục Nguyễn Văn Sang cũng ghi nhận điều này trong Hồi ký của mình:

       “ Thực ra cũng phải chân thành nhìn nhận rằng: Ủy ban đoàn kết tuy là tiếp nối và sinh ra từ Ủy ban liên lạc Công giáo, nhưng có nhiều nét tiến bộ và làm được nhiều điều đáng khen hợp lý. Ví dụ: Ủy ban đã tập hợp được một số các nhân sĩ, trí thức tham gia tổ chức như Dược sĩ, GS Lương Tấn Thành, sau này có cả TS, nhà báo Phạm Huy Thông”  (1).

       Nhờ có các nhân sĩ, trí thức Công giáo tham gia nên hoạt động của Ủy ban ĐKCG thành phố Hà Nội có hàm lượng tri thức, khoa học hơn một số nơi khác như tổ chức được nhiều cuộc tọa đàm, hội thảo khoa học như : “ Xây dựng gia đình văn hóa Công giáo ở Thủ đô Hà Nội” ( năm 2008); “ Xây dựng xứ họ đạo tiên tiến”  (năm 2009) ; “ Người Công giáo Thủ đô với Thăng Long- Hà Nội”; “ Bác Hồ với người Công giáo Thủ đô” ( năm 2010); “ Về sứ điệp của Đức Benedicto XVI: Người Công giáo tốt cũng là người công dân tốt”  (năm 2012)… Ba cuốn sách: “ Chủ tịch Hồ Chí Minh với đồng bào Công giáo” (Nxb CTQG 2004); “Ảnh hưởng qua lại giữa đạo Công giáo và văn hóa Việt Nam”(NXB Tôn giáo 2012) của TS Phạm Huy Thông và cuốn kỷ yếu khoa học “ Người Công giáo tốt cũng là người công dân tốt” (Nxb Tôn giáo năm 2013) là những tài liệu bổ ích không chỉ cho giới nghiên cứu mà cho cả phong trào thi đua yêu nước của đồng bào Công giáo Thủ đô.

       Ủy ban ĐKCGVN thành phố Hà Nội đã tổ chức được nhiều buổi tập huấn về tình hình tôn giáo, công tác tôn giáo cũng như phổ biến các Luật, Pháp lệnh, nghị định về tôn giáo đến không chỉ các ủy viên Ủy ban mà cả Ban hành giáo các xứ họ trên địa bàn. Nội dung các kỳ họp của Thường trực hàng tháng hay của cả Ủy ban hàng quý phong phú hơn và hấp dẫn hơn. Một số hoạt động của Ủy ban được dư luận chú ý và đánh giá cao như buổi đóng góp ý kiến vào bản dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 ngày 25-2-2013. Từ năm 2011, Ủy ban đã tổ chức những buổi giao lưu, trao đổi kinh nghiệm công tác với cả Ủy ban các tỉnh bạn như Thanh Hóa, Quảng Ninh , Đà Nẵng , Thành phố Hồ Chí Minh và Cần Thơ , Nghệ An, Quảng Bình  không chỉ học tập lẫn nhau về xây dựng tổ chức, hướng dẫn phong trào thi đua yêu nước của các địa phương mà còn là dịp động viên các vị tham gia Ủy ban có dịp đi thăm các danh thắng của đất nước. Ủy ban cũng cố gắng hài hòa quan hệ đạo và đời.

       Các phong trào thi đua yêu nước trong giới Công giáo do Ủy ban phát động luôn bám sát thực tiễn đời sống của Giáo hội và xã hội nên cũng mau chóng được triển khai ở các xứ họ đạo như phong trào “ Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, sống tốt đạo, đẹp đời”, phong trào “Mỗi người Công giáo Thủ đô là một công dân tốt”, phong trào “ Xây dựng xứ họ đạo tiên tiến”…Các phong trào này đã thực sự làm thay đổi diện mạo các xứ họ đạo. Trước đây, người Công giáo vốn sợ làm giàu vì bị ám ảnh bởi câu Kinh thánh: “Người giàu có vào nước Thiên đàng khó hơn con lạc đà chui qua lỗ kim” (Lc.18, 24-25). Nay, người Công giáo đã thi đua làm giàu cho mình, cho xã hội bằng cách khôi phục các làng nghề truyền thống như trồng đào Nhật Tân, trồng hoa Tây Tựu, làm gốm Bát Tràng, nghề mây tre đan ở Thanh Oai. Bà con nông dân ở Thanh Trì, Sóc Sơn cũng mở trang trại, làm VAC. Nhiều khu công nghiệp mới mở ở Hoài Đức, Thạch Thất thu hút cả ngàn lao động. Thu nhập của các gia đình Công giáo làm kinh tế giỏi ngày càng tăng cao. Năm 2000, thu nhập của gia đình cao nhất là 200 triệu thì đến năm 2015 có nhiều gia đình thu nhập 1-2 tỷ đồng/năm như ông Nguyễn Văn Cần ở Sóc Sơn, ông Phạm Văn Hạnh, ông Cao Duy Quang  (Thanh Trì), anh Trường- chị Mùi, ông Hoàng Phúc Triển ( Tây Hồ), Trần Văn Cử, Trần Văn Chiến ( Đan Phượng), ông Nguyễn Văn Huynh (Thanh Oai)…Nhờ vậy, số hộ giàu Công giáo tăng lên, hộ nghèo giảm đi. Huyện Đông Anh có 200 hộ Công giáo thì có 77 hộ giàu, 120 hộ kinh tế khá, chỉ có 3 hộ nghèo. Quận Tây Hồ có 70% các gia đình Công giáo có nhà cửa khang trang, tiện nghi, đồ dùng sinh hoạt hiện đại.

       Trước đây, người Công giáo ngại cho con học lên cao vì sợ “mất linh hồn, sa hỏa ngục”, nay thì nhiều giáo xứ, họ giáo lập quỹ khuyến học để động viên các con em nhà nghèo, hiếu học. Tiêu biểu nhất là quỹ học bổng mang tên linh  mục Nguyễn Ngọc Bích mỗi năm cấp vài trăm triệu đồng cho hàng trăm học sinh, sinh viên nghèo. Vì vậy, rất nhiều người Công giáo đã vào được đại học và sau đại học. Huyện Hoài Đức trong 5 năm (2007- 2012) đã có hơn 300 em vào đại học, 26 em học cao học và sau đại học. Anh Nguyễn Thanh Tùng  (Hoàng Mai) bị khiếm thị do nhiễm chất độc da cam nhưng cũng đã vươn lên có hai bằng đại học và  trở thành nghệ sĩ đàn bầu nổi tiếng trong nước và quốc tế. Anh Nguyễn Công Hùng ( Hoàng Mai) dù bị tàn tật cả chân tay nhưng tự học và trở thành kiện tướng công nghệ thông tin và được tôn vinh là một trong 10 gương mặt thanh niên tiêu biểu toàn quốc năm 2006. Mỗi kỳ thi đại học, cao đẳng hàng năm, các xứ họ đã đón tiếp 3-4000 lượt thí sinh và người nhà tìm chỗ trọ miễn phí hay giá rẻ, lo đưa đón, nấu cơm phục vụ tiết kiệm cho các em hàng tỷ đồng/năm.

       Người Công giáo cũng hăng hái tham gia các chương trình thi đua lớn của Nhà nước. Giáo dân ở Sóc Sơn tích cực ủng hộ kế hoạch dồn điền đổi thửa để xây dựng nông thôn mới. Người Công giáo ở Ngọc Động ( Gia Lâm) đã di dời 200 ngôi mộ của người thân để trả mặt bằng cho Nhà nước làm đường. Nhà thờ họ Phúc Lý  (BắcTừ Liêm) đã ủng hộ 200m2, xứ Phương Trung (Thanh Oai) ủng hộ 80m2 để làm đường nông thôn mà không đòi bồi thường. Giáo dân Đông Anh, Tây Hồ, thực hiện tốt việc tang, cưới văn minh. Phường Phúc Tân ( Hoàn Kiếm) trước đây là một tụ điểm ma túy phức tạp, 5 năm nay không có người nghiện mới. Người cai nghiện được bà con giúp đỡ mau chóng ái nhập cộng đồng. Một số người nhiễm HIV/AIDS ở Hoàn Kiếm, Tây Hồ đã trở thành cộng tác viên tích cực trong truyền thông cộng đồng.

       Một thành tích nổi bật của người Công giáo Thủ đô được Ủy ban ĐKCG phát động và thu được nhiều kết quả đó là hoạt động từ thiện, bác ái. Các nhóm ve chai ở Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng mỗi năm cũng thu được vài trăm triệu cho từ thiện. Mỗi dịp lũ lụt, hưởng ứng lời kêu gọi của Tòa giám mục, bà con lại ủng hộ cả tỷ đồng tiền mặt, đồ dùng cho ban Caritas giáo phận đưa vào  miền Trung. Tính trung bình, mỗi năm người Công giáo Thủ đô ủng hộ cho hoạt động từ thiện khoảng 10 tỷ đồng. Caritas Hà Nội, Hưng Hóa đã mổ mắt miễn phí cho hàng ngàn bệnh nhân nghèo, tặng 300 xe lăn cho người tàn tật. Dòng Thánh Phaolô mỗi ngày duy trì cung cấp hàng trăm xuất cháo cho bệnh nhân nghèo. Cộng đoàn Emaus Hà Nội đã tổ chức hơn 500 buổi truyền thông về HIV/AIDS và chăm sóc cho 200 bệnh nhân giai đoạn cuối tại nhà. Nhiều xứ lập văn phòng tư vấn hôn nhân gia đình, HIV/AIDS. Các nhóm bảo vệ sống đã giúp đỡ hàng trăm bà mẹ lỡ mang thai được mẹ tròn con vuông và thu gom hàng ngàn thai nhi bị bỏ về chôn cất chu đáo ở nghĩa trang Từ Châu (Thanh Oai), Bến Cốc (Sóc Sơn)…

       Người Công giáo cũng vượt qua mặc cảm để tham gia quản lý xã hội. Huyện Phúc Thọ có 2217/5518 người là giáo dân (chiếm 42,2%) tham gia các tổ chức, đoàn thể ở địa phương. Thanh Oai có 172 đảng viên là người gốc giáo trong đó có 2 vị là huyện ủy viên, 2 Phó Bí thư Đảng ủy, 43 tham gia cấp ủy. Nhờ vậy số gia đình Công giáo đạt danh hiệu gia đình văn hóa không ngừng tăng lên. Năm 2007, ở Hà Nội cũ có gần 70% số gia đình đạt tiêu chuẩn, đến năm 2015, có nhiều quận, huyện có hơn 90% gia đình được công nhận như Tây Hồ 93,1% (469/504 hộ), Đan Phượng 93,35%. Các huyện Phú Xuyên, Hoài Đức, Hai Bà Trưng cũng hơn 90% đạt chuẩn. Riêng gia đình ông Lê Ngọc Châu (Hai Bà Trưng) đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa cấp quốc gia. Nhiều xứ họ đạt tiêu chuẩn xứ họ đạo tiên tiến. Huyện Hoài Đức có 20/24 xứ họ đạt tiêu chuẩn. Huyện Phú Xuyên có nhiều xứ được công nhận là làng văn hóa cấp quốc gia như Tân Độ, Chuôn Thượng, Văn Minh…

       Tổ chức của Ủy ban ĐKCG thành phố Hà Nội đã được kiện toàn từ thành phố xuống các quận huyện, thị. Hiện nay có 29 Ban ĐKCG ở cấp quận, huyện. (Quận Cầu Giấy ít giáo dân nên không lập). Nhiều nơi còn phát triển Tổ ĐKCG và hoạt động nề nếp như Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Đống Đa, Sóc Sơn…Từ năm 2010, các Ban ĐKCG đã có quyết định công nhận của Ủy ban ĐKCG thành phố và có sinh họat thường kỳ hàng tháng, tổ chức tốt các hoạt động sơ kết, tổng kết hàng quý, hàng năm. Ban Thường trực Ủy ban ĐKCG thành phố có sự phân công nhiệm vụ cho từng Ủy viên, có lịch sinh hoạt thường kỳ hàng tháng, hàng quý và cả năm ngay từ đầu năm công tác.

     3- Nguyên nhân của sự thành công và hạn chế

       Phải khẳng định rằng, nếu không có sự quan tâm, giúp đỡ của các cấp ủy Đảng, chính quyền, MTTQ các cấp thì tổ chức và phong trào thi đua yêu nước của đồng bào Công giáo Thủ đô không thể tồn tại và phát triển cũng như đạt được nhiều thành tích như hiện nay.

       Ngay từ ngày đầu độc lập, dù bận rất nhiều công việc của kháng chiến nhưng Hồ Chủ tịch đã giành cho người Công giáo Thủ đô nhiều tình cảm quý báu.  Ngày 8 -6-1946, Hồ Chủ tịch vẫn chỉ đạo Bộ Nội vụ ký sắc lệnh cho phép Liên đoàn Công giáo Việt Nam được hoạt động với cơ quan ngôn luận là tờ Liên đoàn có trụ sở ở số 3 Nhà Chung. Ngày 24-9-1946, Hồ Chủ tịch lại cho phép quyên cúng để xây dựng hai nghĩa trang ở Khương Thượng và Quỳnh Lôi. Lễ cầu hồn năm 1946, đích thân Hồ Chủ tịch tới nhà thờ lớn Hà Nội dự để cầu nguyện cho các liệt sĩ và đồng bào đã hy sinh trong kháng chiến. Khi con trai bác sĩ Vũ Đình Tụng là anh Vũ Đình Thành hy sinh khi chiến đấu bảo vệ chợ Hôm đầu năm 1947, Hồ Chủ tịch đã gửi thư thấm đẫm nước mắt tới chia buồn, thăm hỏi.

       Khi đoàn quân đang tiến vào giải phóng Thủ đô thì nghe tin linh mục Phạm Bá Trực mất, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài điếu văn đầy xúc động.

       Dù bận chỉ đạo cuộc kháng chiến chống Pháp, nhưng khi nhận được thư chúc mừng sinh nhật của các cháu thiếu nhi Công giáo ở Thượng Mỹ  (Phú Xuyên), Hồ Chủ tịch cũng gửi thư cảm ơn.

       Riêng Ủy ban Liên lạc Công giáo thành phố Hà Nội và sau này là Ủy ban ĐKCG thành phố Hà Nội cũng trải qua nhiều sóng gió nhưng luôn nhận được sự quan tâm của chính quyền , MTTQ địa phương. Trước mỗi kỳ đại hội, cơ quan Đảng, chính quyền, MTTQ các cấp đều có công văn hướng dẫn cấp dưới giúp đỡ tổ chức tốt các đại hội hay hội nghị của Ủy ban ĐKCG từ thành phố đến quận, huyện, thị. MTTQ các cấp trực tiếp vào cuộc cùng với Ban Thường trực Ủy ban ĐKCG chuẩn bị các khâu từ nhân sự, tài chính đến chương trình nghị sự, văn kiện, tài liệu. Thành phố cũng quan tâm giúp đỡ cho Ủy ban từ việc hỗ trợ kinh phí đến cơ sở vật chất.

       Việc khen thưởng để động viên phong trào thi đua yêu nước của đồng bào Công giáo Thủ đô luôn được các cấp quan tâm. Hàng năm đều có hàng trăm tập thể, cá nhân người Công giáo được khen thưởng. Riêng năm 2015 có gần 500 tập thể, cá nhân được khen thưởng ở các cấp.

       Về những nguyên nhân làm hạn chế sự phát triển của tổ chức và phong trào yêu nước người Công giáo Thủ đô đó là còn có sự mặc cảm định kiến về tổ chức này nên chưa có được sự đồng thuận của một số người. Nhân sự của Ủy ban ĐKCG hiện nay nhiều người tuổi cao, năng lực có hạn nhất là ở cấp quận, huyện, thị nên chưa năng động, sáng tạo ra những hình thức hoạt động lôi cuốn, hấp dẫn cộng đồng Công giáo. Về chế độ, chính sách thực hiện cũng chưa có hướng dẫn nhất quán, đồng bộ giữa các địa phương…

       Để tiến tới Đại hội “Người Công giáo Thủ đô xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” lần thứ VII và Hội nghị Tổng kết nhiệm kỳ VI (2012-2017) ở 29 quận, huyện, thị trên thành phố Hà Nội diễn ra trong năm 2017, một phong trào thi đua yêu nước trong đồng bào Công giáo Thủ đô được phát động để chào mừng sự kiện trọng đại trên.  Chúng tôi tin rằng với truyền thống đồng hành cùng dân tộc hơn 60 năm qua cùng với sự quan tâm, ủng hộ của chính quyền, của cộng đồng thì tổ chức và phong trào thi đua yêu nước của đồng bào Công giáo Thủ đô sẽ còn tiến xa hơn, giành nhiều kết quả lớn hơn nữa, xứng với tầm vóc của Thủ đô Hà Nội.

                        TS. Phạm Huy Thông

Chú thích 

1-Giám mục Nguyễn Văn Sang: Hồi ký của Giám mục về hưu, tập 2, Lưu hành nội bộ, H.2001, tr.122        

Hơn 60 năm người Công giáo thủ đô đồng hành cùng dân tộc1-Vài nét về tình hình Công giáo của Thủ đô Hà Nội        Thăng Long- Đông Đô- Hà Nội đã có một vị trí trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của nước ta từ hàng ngàn năm nay. Về mặt tôn giáo, đây cũng là mảnh đất sớm nhận được Tin Mừng ở Việt Nam. Theo
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
Quy chế quản lý hoạt động khoa học và công nghệ của Bộ Nội vụ
Thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo là cần thiết và phù hợp với công ước quốc tế
Phát huy vai trò của Ni giới trong xã hội
Một số điểm mới trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo
Nguy cơ tiềm ẩn từ hiện tượng tuổi trẻ hành đạo sớm
Báo cáo về nhân quyền, tự do tôn giáo của Bộ Ngoại giao Mỹ không phản ánh đúng thực tế ở Việt Nam
Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Phật giáo
Phúc trình tự do tôn giáo quốc tế 2015 lại xuyên tạc tình hình tôn giáo Việt Nam
Theo dòng thời sự: Đâu là thực tế tự do tôn giáo ở Việt Nam?
Vấn đề bảo tồn di tích cần được quan tâm
Video
Toàn văn bài phát biểu của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc tôn giáo có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Bài phát biểu của Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ Vũ Chiến Thắng tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Hình ảnh
Ngôi chùa hơn 150 tuổi mang nét kiến trúc Á - Âu ở Tiền Giang
Hình ảnh Cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc các tôn giáo có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Hình ảnh các hoạt động của chức sắc, chức việc tham dự cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ tại Đà Nẵng
Audio
Ông Bùi Thanh Hà, Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ trao đổi về vấn đề dâng sao giải hạn đang diễn ra tại một số chùa
Phỏng vấn Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Cần Thơ về công tác tuyên truyền, phổ biến Luật tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định 162/2017/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo tại địa phương


BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Đường Dương Đình Nghệ, P. Yên Hòa,Q. Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 0243 8 248 673 . Fax: 08041313
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn



Người chịu trách nhiệm chính: TS.Bùi Thanh Hà 
Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ

Đơn vị quản lý: Trung tâm Thông tin,
Ban Tôn giáo Chính phủ

Email:ttttbantongiao@chinhphu.vn