Ấn phẩm sách
Từ điển tôn giáo
Giới thiệu sách “ Văn bản Pháp luật Việt Nam về tín ngưỡng, tôn giáo”
Mác, Ăngghen, Lê nin bàn về tôn giáo
Tìm hiểu Kinh Thánh
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?













Chọn    Xem KQ
TỪ SỰ ĐỔI MỚI NHẬN THỨC ĐẾN SỰ ĐỔI MỚI VỀ CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO

        Hơn hai thập kỷ qua, trong những thắng lợi to lớn và toàn diện của sự nghiệp Đổi mới Đất nước, không thể không kể đến những thắng lợi của sự nghiệp Đổi mới về tư duy lý luận, đường lối và chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta.

          Bài viết này xin được phác họa lại quá trình đó và minh chứng cho những thắng lợi trên - bộc lộ một số suy nghĩ về chặng đường sắp tới.

            Sự nghiệp Đổi mới Đất nước của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đến nay đã hơn hai thập kỷ. Cánh cửa của Đại hội VI (1986) đã mở ra quá trình ấy một cách thật ngoạn mục giữa lúc thế giới đang diễn ra những động thái khó lường và phe XHCN đã có những dấu hiệu khủng hoảng sâu sắc đứng trước nguy cơ tan rã.

          Hơn hai thập kỷ qua, trong những thắng lợi to lớn và toàn diện của sự nghiệp Đổi mới Đất nước, không thể không kể đến những thắng lợi của sự nghiệp Đổi mới về tư duy lý luận, đường lối và chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta.
          Bài viết này xin được phác họa lại quá trình đó và minh chứng cho những thắng lợi trên - bộc lộ một số suy nghĩ về chặng đường sắp tới.
 
ĐIỂM KHỞI ĐẦU: HAI LUẬN ĐỀ CÓ TÍNH ĐỘT PHÁ VỀ NHẬN THỨC…
 
          Với vấn đề Đổi mới nhận thức về tôn giáo ở nước ta, đến nay ai cũng hiểu rằng, Nghị quyết số 24 NQ-TW ngày 16/10/1990 của Bộ Chính trị khóa VI về “Tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới” là dấu mốc mở đầu cho bước ngoặt phát triển về nhận thức.
          Bản Nghị quyết này có hai luận điểm mang “tính đột phá” là: Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân và tôn giáo có những giá trị văn hóa đạo đức phù hợp với chế độ mới.
          Phải đặt hai luận điểm này trong khung cảnh lúc đó ta mới hiểu rõ ý nghĩa.
          Đó là một thời điểm lịch sử đặc biệt. Ở đây, nên nhắc lại chút ít khung cảnh “lịch sử phê bình mác xít về tôn giáo”. Lúc đó, bộ phận các nước XHCN Đông Âu đã sụp đổ, nhưng những quan điểm tả khuynh về tôn giáo vẫn còn chế ngự. Đặc điểm chủ yếu của giai đoạn ấy là, phê bình tôn giáo chủ yếu vào căn bản của thuyết vô thần luận mác xít và các hình thái vô thần duy vật khác. Ở Trung Quốc, đã có những dấu hiệu đổi mới đầu tiên với việc bàn luận về những đặc điểm về tôn giáo ở Trung Quốc và khả năng thích ứng với CNXH của tôn giáo (1982)…
          Với nước ta, hai luận điểm trên đã nhanh chóng tạo nên sự đột phá nhận thức: không thể nhìn tôn giáo qua mệnh đề của Mác đã bị cắt xén và phiến diện “Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”. Phải nhìn nhận tôn giáo như một “thực tại xã hội” và là nhu cầu của một bộ phận quần chúng (Có văn bản còn nói là một bộ phận quan trọng) và nó hoàn toàn có thể đồng hành với CNXH. Riêng luận đề mới mẻ về Văn hóa tôn giáo đã khơi dậy trực tiếp nhất những suy nghĩ, hành động tích cực của quần chúng, người có tôn giáo cũng như không có tôn giáo. Khi các giá trị văn hóa, đạo đức của tôn giáo được đặt trong khuôn khổ của văn hóa dân tộc một mặt đã thừa nhận sự đa dạng của văn hóa dân tộc, mặt khác tạo ra thêm một con đường đoàn kết dân tộc, tôn giáo. Khai thác tốt các giá trị văn hóa, đạo đức của tôn giáo thuận lợi hơn trong quá trình “Tìm về dân tộc”…
          Kể từ sau Nghị quyết 24/NQ-TW nói trên, Đảng ta còn có nhiều văn kiện khác khẳng định và phát triển tư duy đổi mới về tôn giáo: hàng loạt các Thông báo về các tôn giáo cụ thể: Chỉ thị 37- CT/TW ngày 2/7/1998 của Bộ Chính trị về công tác tôn giáo trong tình hình mới, một văn kiện quan trọng lần đầu tiên được đăng tải công khai trên tờ Nhân dân và hàng loạt các tờ báo khác.
          Không thể không nhắc đến việc cũng là lần đầu tiên trong lịch sử Đảng ta, vấn đề tôn giáo được đưa ra bàn bạc, quyết định ở cấp BCH TW, đó là Văn kiện của hội nghị TW lần thứ 7 (Khóa IX), Về công tác tôn giáo, đến nay vẫn tỏa rạng cho công tác tôn giáo và cả cho bản thân đời sống tôn giáo. Cần ghi nhận con số sau đây: từ 1990 đến 2003, đã có 13 văn kiện về các vấn đề tôn giáo gồm 2 Nghị quyết, 2 Chỉ thị, 9 Thông báo. Trong đó, cấp Ban Bí thư ban hành 1 Chỉ thị, 7 Thông báo; cấp Bộ Chính trị ban hành 01 Nghị quyết, 01 Chỉ thị và 02 Thông báo; cấp Ban Chấp hành TW ban hành 01 Nghị quyết…
         Điều quan trọng hơn cả là đến nay, nhận thức về vấn đề tôn giáo của cán bộ, đảng viên và quần chúng đã có bước tiến khá dài. Một bầu không khí xã hội mới mẻ đã lan tỏa, ranh giới vô hình mà khắc nghiệt về sự phân biệt “lương giáo” mà các thế lực đế quốc, thực dân, phong kiến trước đây cố tình khoét sâu mâu thuẫn, nay đã được gỡ bỏ căn bản, tạo nên những điểm sáng trong quan điểm Đạo Đời.
…ĐẾN SỰ ĐỔI MỚI TRONG CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO
          Đây là bề nổi của sự vật, và thật đáng chú ý, điều này ngày càng bộc lộ rõ và tạo nên những chuyển biến hết sức sống động trong thực tiễn đời sống các tôn giáo ở nước ta.
          Ngoài những qui phạm pháp luật chứa đựng trong các điều luật của các bộ luật (Luật Hình sự, Tố tụng hình sự, Luật Đất đai…), cho đến những văn bản có tính pháp lý cao nhất như các bản Hiến pháp, từ 1991 đến nay, Nhà nước ta đã cho ban hành hàng loạt các văn bản riêng về tôn giáo, tín ngưỡng.
          Có thể xem Nghị định số 69/NĐ- HĐBT ngày 21/3/1991 của Hội đồng Bộ trưởng “Quy định về các hoạt động tôn giáo” là văn bản mở đầu. Năm 1993, Chính phủ ra Nghị định liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan có tầm quan trọng bậc nhất về quản lý nhà nước về tôn giáo: Ban Tôn giáo của Chính phủ. Sau đó là nhiều văn bản đều có dấu ấn khác: Nghị định 26/NĐ-CP ngày 19/4/1999 của Chính phủ “Về các hoạt động tôn giáo”, Quyết định số 125/2003 của Thủ tướng Chính phủ ngày 18/6/2003 “ Về việc phê duyệt chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị TW 7 (khóa IX) Về công tác tôn giáo” …
          Đặc biệt, tháng 7/2004, dư luận trong nước và quốc tế rất quan tâm đến sự kiện Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo do Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua và được ban hành cũng như Nghị định số 22/2005/NĐ-CP “Hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo” của Chính phủ được ban hành (3/2005). Về mặt vĩ mô, phải nói sự đổi mới mạnh mẽ của chính sách tôn giáo cũng được bắt nguồn từ tinh thần của Nghị quyết 24/NQ-TW nói trên. Trong đó, cũng là lần đầu tiên, công tác tôn giáo của Nhà nước ta từ khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám (1945) vốn được coi chủ yếu là công tác đánh địch lợi dụng, nay được coi, chủ yếu là công tác vận động quần chúng (phạm trù công tác dân vận) với luận đề quan trọng sau đây “Thực chất công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng”.
          Chúng ta đã có những bước tiến dài trong việc thể chế hóa các quyền tự do tôn giáo tín ngưỡng của quần chúng và các hoạt động của các tổ chức tôn giáo. Cũng lần đầu tiên, từ 1991 đến nay, Nhà nước ta thể hiện quyết tâm xây dựng Nhà nước pháp quyền (XHCN) trên lĩnh vực quản lý tôn giáo bằng việc ban bố hàng loạt Quy định, Nghị định, Chỉ thị, Thông tư… và đỉnh cao nhất đến nay là Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo nói trên.
          Có thể nói hàng loạt các văn bản pháp lý ấy đã thể hiện sinh động sự đổi mới về chính sách Tôn giáo. Chúng tôi mạn phép khái quát vào một số điểm sau đây:
- Thứ nhất, vậy là mối quan hệ giữa Nhà nước và các tôn giáo, nói đúng hơn là các tổ chức tôn giáo (Giáo hội, Hội thánh, Ban Trị sự, Hội đồng giáo xứ…) đã được cải thiện căn bản theo hướng pháp quyền. Một mô hình nhà nước thế tục mácxít, về bản chất là nhà nước thế tục vô thần do Chủ tịch Hồ Chí Minh thiết kế từ Sắc lệnh 234 (1955), nay đã hiện ra rõ rệt. Mô hình này tỏ ra thích hợp với đời sống tôn giáo ở Việt Nam, được đông đảo đồng bào có đạo và quần chúng nói chung hoan nghênh và bước đầu được thế giới nhìn nhận. Trên cả 3 khâu: theo đạo, hành đạo và quản đạo đã được thể chế hóa và cơ bản đã phù hợp với thực tiễn.
- Thứ hai, về mối quan hệ giữa “hoạt động tôn giáo” và “công tác tôn giáo” cũng được giải quyết tốt hơn. Mối quan hệ này vốn không hề đơn giản vì các “họat động tôn giáo” vốn là lợi ích sống còn của các chủ thể tôn giáo, trong khi đó “công tác tôn giáo” lại là vấn đề thuộc phạm trù quản lý của nhà nước.
         Nhà nước ta hiểu rõ những kinh nghiệm quá khứ, khi mà sự tương tác giữa hai chủ thể “hoạt động tôn giáo” và “công tác tôn giáo” diễn ra không thuận lợi, dẫn đến xung đột, triệt tiêu lẫn nhau.
          Ở đây tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như các quan điểm của Đảng ta về sự khai thác các điểm tương đồng, đồng thuận xã hội có ý nghĩa lớn “Giữ vững độc lập, thống nhất của Tổ quốc vì dân giàu, dân chủ, văn minh”, luôn là ngọn đèn pha soi rọi cho công tác tôn giáo.
- Thứ ba, vận dụng kinh nghiệm của lịch sử dân tộc và quốc tế về Luật pháp tôn giáo, để sự thể chế hóa về quyền hạn và nghĩa vụ của toàn dân, trước hết là cộng đồng các tôn giáo ngày càng thích hợp hơn.
           Đây cũng là nét mới trong chính sách tôn giáo của Nhà nước ta hiện nay, trực tiếp tạo nên bầu không khí phấn khởi trong các chức sắc và tín đồ các tôn giáo.
          Về mặt vi mô, nước ta có 6 tôn giáo lớn (Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Hồi giáo, Cao đài và Phật giáo Hòa Hảo) mà việc quản lý mỗi tôn giáo đòi hỏi có những giải pháp riêng.
          Gần 20 năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có những thành tựu rất đáng kể về mặt này.
          Không chỉ đối với Công giáo, Phật giáo những tôn giáo lớn có vị trí đặc biệt trong hệ thống tôn giáo ở nước ta, những chính sách đúng đắn của Nhà nước ta những năm gần đây với đạo Cao đài (đã công nhận tư cách pháp nhân cho 10 tổ chức hệ phái); với Phật giáo Hòa Hảo cũng có những quyết sách mạnh dạn về cơ cấu tổ chức về Ban Trị sự, với Hồi giáo cũng tương tự. Đặc biệt, với những chính sách táo bạo, liên tục để giải quyết cơ bản “vấn đề Tin lành”, vấn đề tôn giáo nóng bỏng bậc nhất trong những năm gần đây của nước ta.
          Có thể nói, sự đổi mới chính sách tôn giáo những năm gần đây đã đem lại hiệu quả to lớn trong việc góp phần quyết định tạo ra sự ổn định, bức tranh sinh hoạt tôn giáo ngày càng có nhiều điểm sáng. Tất nhiên, trong những năm qua và còn lâu dài các thế lực thù địch vẫn luôn tìm cách lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá cách mạng Việt Nam. Nhưng có thể nói, xu hướng tôn giáo Việt Nam đồng hành cùng dân tộc và CNXH là không thể đảo ngược.
 
MẤY VẤN ĐỀ Ở PHÍA TRƯỚC
1. Để tiếp tục đổi mới tư duy về tôn giáo và công tác tôn giáo phải chăng trước mắt chúng ta là những vấn đề dưới đây?
          Thứ nhất, chúng ta đã thừa nhận tôn giáo còn là một thực tại xã hội, thậm chí nó có thể đồng hành với dân tộc và với CNXH. Tư duy lý luận của chúng ta phải tiến thêm một bước quan trọng khác, một luận đề có tính “đột phá” khác là, để tôn giáo - “thực thể xã hội” ấy có thể thích ứng với CNXH phải tạo cho nó khả năng và quyền hạn (pháp lý nhân sự) tham gia tích cực hơn vào một số lĩnh vực xã hội thích hợp, đóng góp vào việc xây dựng phát triển Đất nước thỏa mãn nhu cầu của đời sống tôn giáo.
          Tiền đề lý luận khách quan là: trong bối cảnh Toàn cầu hóa, hiện đại hóa, mọi tôn giáo đều có khuynh hướng trở thành “tôn giáo xã hội”, thích ứng và hội nhập xã hội ngày càng cao.
          Vì những lý do lịch sử và thói quen trong tư duy chính trị, ở Việt Nam, nói chung các tổ chức tôn giáo, dù đã có tư cách pháp nhân (hiện đã có 32 tổ chức, hệ phái thuộc 12 tôn giáo) vẫn chưa thực sự được coi là những tổ chức xã hội thông thường về mặt dân sự, và chưa thật hòa nhập vào các lĩnh vực hoạt động như giáo dục, y tế, từ thiện, kinh tế… với tư cách một chủ thể pháp nhân. Mức độ được tham gia hiện nay của các tôn giáo vẫn còn khiêm tốn. Điều này khiến Luật pháp tôn giáo ở Việt Nam còn có điểm chưa gần với thông lệ quốc tế.
          Đây là vấn đề lớn, cần có sự nghiên cứu đầy đủ, toàn diện hơn.
          Nhưng dù sao Nhà nước cần tính đến khả năng “nới rộng” hơn vẫn là thích hợp.
          Dĩ nhiên, từng bước một. Chẳng hạn, liệu tới đây các tổ chức tôn giáo có thể tham gia mở trường phổ thông cấp I, II (dân lập), bệnh viện tư (loại chữa trị các bệnh đặc biệt)… Lẽ dĩ nhiên mọi họat động này đều trong khuôn khổ Luật pháp Nhà nước.
          Dù điều này là phức tạp, nhiều trở lực xã hội và tâm lý, nhưng đây là con đường hiệu nghiệm để chứng tỏ Đảng và Nhà nước ta thực sự tạo cho tôn giáo một đời sống xã hội bình thường, tôn giáo là việc tư nhân và các tổ chức tôn giáo phải được xem là “các tổ chức xã hội đặc biệt”, những hiệp hội…như lối nhìn của nhiều nước, nhiều khu vực trên thế giới.
         Thứ hai, trong bối cảnh “Toàn cầu hóa tôn giáo” hiện nay, tôn giáo nước ta đã và đang có những biến đổi, những tác động sâu sắc, mới mẻ trên mọi phương diện.
          Muốn tiếp tục đổi mới tư duy về vấn đề tôn giáo phải thích ứng hơn nữa với điều này. Cần khắc phục lối nhìn tôn giáo “kiểu thế kỷ XIX đầu XX” trong đó thường đồng nhất tôn giáo và chính trị. Tư duy về tôn giáo hiện nay cần mở rộng hơn, hướng đến những phương diện nhân văn, văn hóa và tâm linh của con người (“Sự trở lại của tâm thức tôn giáo”). Hơn thế nữa, còn phải thấy được những loại hình tôn giáo mới chưa từng có: những “tôn giáo cá thể”, “tôn giáo của những niềm tin song song”…Những hiện tượng mới này ít nhiều phản ánh sự đòi hỏi của yêu cầu dân chủ hóa trên bình diện toàn cầu, trong đó có lĩnh vực tôn giáo.
          Với các tôn giáo lớn đã trở thành truyền thống, chúng ta cũng cần nghiên cứu các khuynh hướng thần học mới tiến bộ, khai thác những mặt tích cực của nó, đồng thời hạn chế đi đến loại bỏ xu hướng lợi dụng tôn giáo vào các mưu đồ chính trị thù địch: khuyến khích xu hướng Thế tục hóa đi liền với sự cảnh giác trước xu thế Giải thế tục như đã nói trên.
         Thứ ba, giải quyết tốt hơn mối quan hệ giữa Nhà nước và các giáo hội.
          Trong những năm qua chúng ta có rất nhiều thành tựu về vấn đề này do chỗ Đảng từ lâu biết dựa vào Tư tưởng Hồ Chí Minh, nắm chắc đặc điểm của dân tộc, yếu tố dân tộc của cách mạng Việt Nam, tránh được phần lớn những sai lầm thiếu sót của khuynh hướng tả khuynh về vấn đề tôn giáo trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.
          Đặc biệt từ 1990 đến nay, lần đầu tiên Đảng ta đã chuyển vấn đề tôn giáo từ phạm trù nội chính, qua phạm trù công tác dân vận, tạo nên một cục diện mới, được đồng bào các tôn giáo (xuất hiện cụm từ “đồng bào có đạo”) đón nhận tạo nên bầu không khí phấn khởi, thuận lợi hơn cho quan hệ nhà nước với các tổ chức tôn giáo.
          Hiện nay, vấn đề then chốt để tiếp tục đổi mới về tôn giáo là phải đặt mối quan hệ này trong vấn đề nhà nước pháp quyền, bình thường hóa và pháp trị. Càng làm tốt điều này đời sống tôn giáo càng ổn định vững chắc và xây đắp tốt hơn đại đoàn kết dân tộc, tôn giáo…
         2. Tiếp tục hoàn thiện luật pháp tôn giáo, triển khai có hiệu quả hơn đường lối chính sách đổi mới của Đảng, Nhà nước ta
          Vừa qua, việc ban hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo; Nghị định hướng dẫn Pháp lệnh này và đặc biệt chính sách đổi mới rất táo bạo về vấn đề Tin lành (Chỉ thị 01 của Thủ tướng Chính phủ, đầu 2005) đã tạo ra sự thông thoáng, cởi gỡ nhiều ách tắc của công tác tôn giáo và trong các quan hệ quốc tế.
          Sự đổi mới tiếp tục về Luật pháp tôn giáo, theo chúng tôi, trước mắt cần tập trung vào hai điểm sau đây:
- Thứ nhất, phải hoàn thiện hơn mô hình nhà nước thế tục và phát huy hơn hiệu năng của mô hình này. Châu Âu đã cung cấp những kinh nghiệm rất quý cho loài người về 3 mô hình nhà nước thế tục.
- Với nước ta, việc chọn mô hình thứ hai là hợp lý. Trước mắt cần hướng đến cả 2 mục tiêu của sự thể chế hóa là: vừa phải tiếp tục hoàn thiện vấn đề pháp nhân cho các tôn giáo “được thừa nhận”, đồng thời phải bắt tay vào việc giải quyết mệnh đề “tôn trọng các tôn giáo khác”. Hơn nữa, bên cạnh thể chế hóa các quyền hạn tự do tôn giáo cho công dân và các tổ chức tôn giáo, cần có những quy định rõ hơn về trách nhiệm pháp lý của các tổ chức tôn giáo và cá nhân tôn giáo.
- Thứ hai, trước mắt cần hoàn thiện hơn Luật pháp nhân tôn giáo. Những gì đã có của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo mới đây dù là bước tiến quan trọng, nhưng chưa thể nói là đã giải quyết vấn đề cơ bản phức tạp này.
          Ở nước ta, vẫn còn suy nghĩ: trao tư cách pháp nhân cho các tôn giáo khác gì tạo thêm sức lực, vây cánh cho các tổ chức tôn giáo tạo thêm điều kiện để nó trở thành những đoàn thể “áp lực” với Nhà nước!
          Việc công nhận tư cách pháp nhân tôn giáo - nhất là với một nước đa tôn giáo như nước ta - có ý nghĩa xã hội, pháp lý nhiều mặt. Một nhà nước thế tục vững mạnh được lòng dân thì việc công nhận tư cách pháp nhân nói chung là công việc của nhà nước pháp quyền, hội nhập các Công ước quốc tế. Còn việc tổ chức tôn giáo có thể trở thành “Đoàn thể áp lực” hay không, còn tùy thuộc nhiều yếu tố.
          Qua hai cuộc bạo loạn chính trị ở Tây Nguyên (tháng 2/2001 và 4/2004) có liên quan đến “vấn đề Tin lành” cho thấy: địa phương nào làm tốt chuyện “pháp nhân”, chính ở đó yếu tố lợi dụng vấn đề đạo Tin lành (“Tin lành Đê ga”) lại giảm hơn….
         3. Giải quyết tốt hơn quan hệ quốc tế của các tôn giáo
          Trong bối cảnh “Toàn cầu hóa tôn giáo”, yếu tố quốc tế càng đậm nét và đa dạng (xóa bỏ các ranh giới cũ, tạo ra các ranh giới mới). Hơn thế nữa, tôn giáo nước ta từ sau năm 1975, yếu tố quốc tế càng đậm nét trong số người Việt (ở nước ngoài hiện có khoảng 50 vạn tín đồ Phật giáo với trên 200 ngôi chùa; khoảng trên 40 vạn tín đồ Công giáo với hàng chục tờ báo, nhà xuất bản…). Trước hết là giải quyết các vấn đề quan trọng như quan hệ với Vatican, với các tổ chức hệ phái Tin lành quốc tế, với hội nhập các nước Hồi giáo trong khu vực Đông Nam Á (ASEAN), với Phật giáo các nước láng giềng và cộng đồng tín đồ tôn giáo người Việt Nam ở nước ngoài….
         4. Việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác nghiên cứu, giảng dạy và quản lý về tôn giáo
         Trước mắt, cần tăng cường hơn nữa việc đào tạo cán bộ nghiên cứu, giảng dạy về tôn giáo học một cách đồng bộ và thông thoáng hơn. Đồng thời, quan tâm đến khu vực đào tạo cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về tôn giáo mà đội ngũ hiện đã khá đông đảo.
          Đầu tư, quan tâm hơn việc nghiên cứu cơ bản về Tôn giáo học, lịch sử tôn giáo cũng như các vấn đề luật pháp tôn giáo, công tác quản lý nhà nước về tôn giáo.
          Chỉ có sự nghiên cứu tốt về cơ bản mới có luận cứ khoa học chắc chắn cho sự tiếp tục đổi mới về chính sách tôn giáo.
          Cần có chính sách thích hợp hơn với việc thông tin xuất bản có liên quan đến các vấn đề tôn giáo, đặc biệt các sinh hoạt học thuật mang tính quốc tế về tôn giáo.
 
GS, TS. Đỗ Quang Hưng,
Nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Tôn giáo
TỪ SỰ ĐỔI MỚI NHẬN THỨC ĐẾN SỰ ĐỔI MỚI VỀ CHÍNH SÁCH TÔN GIÁOSự nghiệp Đổi mới Đất nước của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đến nay đã hơn hai thập kỷ. Cánh cửa của Đại hội VI (1986) đã mở ra quá trình ấy một cách thật ngoạn mục giữa lúc thế giới đang diễn ra những động thái khó lường và phe XHCN
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
Tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo – chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÔNG TÁC TÔN GIÁO
Tìm kiếm
Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Tin tức Video
Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc Vesak 2014: Hòa bình - Tử bi - An lạc
Tôn giáo Bahai'I 60 năm hình thành và phát triển ở Việt Nam
Kết quả thực hiện chỉ thị 01 về Đạo Tin lành
Hình ảnh
Khi phóng viên tác nghiệp
Chiêm ngưỡng nhà thờ Công giáo lớn nhất châu Á
Thế giới hân hoan đón chào lễ Phật Đản
Âm thanh
Phỏng vấn TS. Thượng tọa Thích Nhật Từ, Ủy viên Hội đồng Trị sự GHPGVN, Phó Ban Giáo dục Tăng Ni TƯ, Ban Hoằng pháp TƯ và Ban Phật giáo Quốc tế GHPGVN những thông tin chính về Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc 2014 tại Việt Nam
Nam Định thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về vấn đề tôn giáo và công tác tôn giáo
Phật giáo Việt Nam trong xu hướng vận động của Phật giáo thế giới



Người chịu trách nhiệm chính:
Ông Dương Ngọc Tấn
Phó trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ

Email: ttttbantongiao@chinhphu.vn
 

BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Phường Yên Hòa - Quận Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 043 8 248 763 . Fax: 08041313
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn

 

LIÊN KẾT WEBSITE KHÁC