Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Ngày 18/11/2018 02:41 PM
Ấn phẩm sách
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 10/2018
Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài
Tìm hiểu Tín ngưỡng thờ cá Ông ở xã An Thủy, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 9/2018
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?















Chọn    Xem KQ
Đạo Tin lành sau 05 năm thực hiện Chỉ thị số 01 của Thủ tướng Chính phủ
Ông Nguyễn Xuân Phúc, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ chúc mừng nhân dịp Đạo Tin lành tổ chức Lễ kỷ niệm 100 năm đạo Tin lành truyền đến Việt Nam

Xét vấn đề tôn giáo trên bình diện cả nước, thời gian qua, đạo Tin lành là vấn đề rất mới, rất lớn và rất khó, vừa liên quan đến công tác đối nội, vừa liên quan đến công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta.

            Trước tình hình trên, ngày 05-02-2005, Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị số 01/CT-TTg Về một số công tác đối với đạo Tin lành (gọi tắt là Chỉ thị số 01). Sau hơn 5 năm thực hiện Chỉ thị số 01, công tác đối với đạo Tin lành đã đạt được những kết quả rất quan trọng làm chuyển biến tình hình đạo Tin lành ở Việt Nam theo chiều hướng tích cực, đóng góp vào sự nghiệp công tác tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới.

1.     Tình hình đạo Tin lành và hoàn cảnh ra đời Chỉ thị 01
 
+ Tình hình đạo Tin lành. Đạo Tin lành có mặt ở Việt nam từ cuối thế kỷ XIX, nhưng chính thức truyền giáo và xây dựng cơ sở đầu tiên tại Đà Nẵng năm 1911 do các giáo sỹ Hội Truyền giáo CMA, còn gọi là Hội Phước âm liên hiệp (The Christian and Missonary of Alliaance of American- CMA). Đến năm 1954, đạo Tin lành ở Việt Nam có khoảng 60 ngàn tín đồ, hơn 100 mục sư, truyền đạo. Năm 1975 số tín đồ đã tăng lên khoảng 200 ngàn người, hơn 500 chức sắc, trên 20 tổ chức, hệ phái. Sau năm 1975, hoạt động của đạo Tin lành lắng xuống, nhưng phục hồi từ những năm 80 trở lại đây và phát triển nhanh trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc, Tây Nguyên với khoảng trên một triệu người theo đạo vào năm 2005. Khi bước vào thực hiện Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, ở Việt Nam có bốn khu vực Tin lành với tình hình và cách giải quyết khác nhau:
- Khu vực tổ chức Tin lành có tư cách pháp nhân. Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam) và Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc) là hai tổ chức Tin lành lớn (trước năm 1954 cùng chung tổ chức Hội thánh Tin lành Việt Nam) đã được công nhận tư cách pháp nhân về tổ chức trước khi có Chỉ thị 01 với tổng số khoảng trên 700 ngàn người theo đạo. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc) được công nhận tư cách pháp nhân từ 1958, vừa trải qua thời kỳ khủng hoảng nhân sự lãnh đạo kéo dài 20 năm (1994 - 2004). Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam) vừa được công nhận tư cách pháp nhân từ năm 2001, nhưng ở khu vực Tây Nguyên về cơ bản vẫn chưa hoạt động bình thường, đồng thời đang đặt ra nhiều công việc tôn giáo phải giải quyết sau 25 không chính thức hoạt động về tổ chức.
- Các tổ chức, hệ phái Tin lành chưa có tư cách pháp nhân. Ở thời điểm 1975, ở miền Nam chỉ có hơn mười tổ chức hệ phái Tin lành, nhưng đến năm 2005 đã có khoảng trên dưới bẩy chục tổ chức, hệ phái Tin lành hoạt động với hơn 300 ngàn tín đồ. Các tổ chức, hệ phái Tin lành này đa dạng về nguồn gốc, quy mô, cơ cấu tổ chức; có tổ chức có mặt ở miền Nam trước năm 1975, có tổ chức mới xuất hiện gần đây- hoặc từ nước ngoài du nhập vào, hoặc tách ra từ những hệ phái có từ trước năm 1975. Phần lớn các tổ chức Tin lành chưa có pháp nhân và không có cơ sở thờ tự, sinh hoạt tại khoảng 2.500 điểm nhóm (chỉ có 14 cơ sở thờ tự đang hoạt động); chức sắc chủ yếu do tự phong và khác nhau về tiêu chuẩn; nhiều tổ chức khai trình cả trăm ngàn người, có nhóm chỉ có vài trăm người; đa số có trụ sở tại thành phố Hồ Chí Minh, nhưng địa bàn hoạt động lại ở các tỉnh, thành trong cả nước, nhất là khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên.
- Ở khu vực Tây Nguyên. Tính theo địa bàn ở Việt Nam vào thời điểm ban hành Chỉ thị số 01 có hai khu vực là các tỉnh Tây Nguyên, vùng cao duyên hải miền Trung và Nam Trường Sơn (gọi chung là Tây Nguyên) và khu vực miền núi phía Bắc (gọi chung là Tây Bắc) có vấn đề đạo Tin lành cần quan tâm cách riêng. Ở Tây Nguyên với khoảng trên 400 ngàn người, đa số mới theo đạo Tin lành trong những thập niên cuối của thế kỷ XX (so với năm 1975 người theo đạo Tin lành ở đây tăng lên trên 7 lần, vì tính năm 1975, sau 40 năm truyền giáo mới chỉ có hơn 60 ngàn người). Số người mới theo đạo Tin lành ở Tây Nguyên thuộc nhiều tổ chức, hệ phái được sinh hoạt tại gần 2.000 điểm nhóm theo buôn. Kể từ năm 2001 khi công nhận tư cách pháp nhân của Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam) đến năm 2005, ở Tây Nguyên chỉ có khoảng 10% số người theo đạo thuộc tổ chức này được sinh hoạt tôn giáo bình thường tại các điểm nhóm, còn lại vẫn chưa được đăng ký hoạt động theo pháp luật.
 - Ở khu vực Tây Bắc. Ngoài 01 Chi hội người Dao ở huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn thuộc Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc) có từ trước năm 1945. Từ giữa năm 1980 đạo Tin lành thâm nhập và phát triển khá nhanh ở Tây Bắc với tổng số khoảng 110 ngàn người mới theo đạo, chủ yếu là đồng bào Mông (không kể khoảng 25.000 người Mông theo đạo Tin lành di cư vào Tây Nguyên- ở thời điểm 2005). Do nhiều nguyên nhân, tất cả số người dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc mới theo đạo Tin lành vẫn chưa được nhìn nhận sinh hoạt tôn giáo và đặt ra nhiều vấn đề phải giải quyết liên quan đến dân tộc, tôn giáo, văn hóa, trật tự an toàn xã hội.
Điều đáng chú ý là dù theo đạo trước năm 1975 hay mới theo gần đây, dù người Kinh hay đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Bắc, Tây Nguyên, dù là nông dân hay thị dân, trí thức,… người theo đạo Tin lành ở Việt Nam là một lực lượng quần chúng khá đông đảo, có niềm tin tôn giáo, có tình cảm và nhu cầu sinh hoạt tôn giáo bình thường, cần được quan tâm xem xét giải quyết hợp lý.
+ Hoàn cảnh ra đời Chỉ thị số 01.Ngoài thực lực khá đông đảo quần chúng theo đạo Tin lành có nhu cầu sinh hoạt tôn giáo bình thường như chúng tôi nêu trên, Chỉ thị số 01 ra đời trong những hoàn cảnh cần chú ý như sau:
- Trước hết, nhận thức về đạo Tin lành và công tác đối với đạo Tin lành của các cấp chính quyền rất khác nhau. Chủ trương công tác đối với đạo Tin lành của Đảng tuy đã được hình thành từ cuối những năm 1980 qua Thông báo 184-TB/TW (1998), Thông báo 255-TB/TW (1999) nhưng chưa được cụ thể hoá bằng văn bản pháp luật, chưa được thống nhất thực hiện trên thực tế. Công tác quản lý nhà nước đối với đạo Tin lành không phát huy hiệu quả. Tình trạng khiếu kiện vượt cấp lên Trung ương về việc chính quyền xử lý hành chính vì lý do truyền đạo và theo đạo, nhất là khu vực người Mông ở Tây Bắc. Một số vụ việc bị các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc cho rằng Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền và công khai áp đặt điều kiện, gây sức ép với Việt Nam trong mối quan hệ quốc tế đa phương và song phương.
- Một vấn đề quan trọng khác là thực hiện chính sách đối với đạo Tin lành trong điều kiện Nhà nước vừa ban hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo. Đây là loại văn bản lập pháp có giá trị pháp lý cao nhất trong lĩnh vực tôn giáo. Đặc biệt Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo có tính hiệu lực và tính thống nhất cao, tức là các quy định của Pháp lệnh phải được thực hiện trên thực tế và thực hiện trên toàn cõi Việt Nam, không có sự phân biệt giữa các vùng miền, địa phương. Điều này đặt ra việc thực hiện chính sách đối với tôn giáo nói chung và đối với đạo Tin lành phải được thống nhất tạo ra sự nghiêm túc của pháp luật. Nhìn từ góc độ khác, Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo điều chỉnh các hoạt động tôn giáo chung, trong khi mặt bằng hoạt động đạo Tin lành như nói trên chưa đủ điều kiện để thực hiện theo quy định của Pháp lệnh.
- Giải quyết vấn đề Tin lành ở Việt Nam còn đặt trong hoàn cảnh đất nước bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Mà như chúng tôi đã có dịp phân tích, do đặc trưng về mặt lịch sử, tôn giáo, văn hóa,… đạo Tin lành có nhiều điểm phù hợp với lối sống, văn hóa của tầng lớp thị dân trong xã hội công nghiệp. Cũng cần nói thêm rằng, giải quyết vấn đề đạo Tin lành đặt trong điều kiện đất nước bước vào thời kỳ mở cửa và hội nhập mà Tin lành là tôn giáo quốc tế lớn có số lượng tín đồ khoảng gần 700 triệu người (tính cả Anh giáo), có ảnh hưởng lớn ở các nước công nghiệp tiên tiến khu vực Tây Âu, Bắc Âu và Bắc Mỹ. Do vậy phải chủ động thực hiện chính sách đối với đạo Tin lành trong bối cảnh và điều kiện mới ở trong nước và quốc tế.
Như vậy, trong điều kiện có Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo phải tạo ra sự thống nhất trong nhận thức và công tác đối với đạo Tin lành, tạo ra “mặt bằng” tôn giáo bình thường, ổn định để thực hiện các quy định pháp luật như các tôn giáo khác. Mặt khác, làm tốt công tác đối với đạo Tin lành sẽ chủ động trong thời kỳ đổi mới, đồng thời góp phần quan trọng vào chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta.
2. Nội dung của Chị thị số 01
Tiếp thu quan điểm công tác đối với đạo Tin lành trong thời kỳ mới của Đảng qua Thông báo 184 (1988), Thông báo 255 (1999): Không cấm đạo Tin lành, chỉ cấm việc lợi dụng đạo Tin lành vào những mục đích xấu; không phát triển đạo Tin lành cũng như không tạo điều kiện cho đạo Tin lành phát triển, nhưng tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của những người theo đạo Tin lành; nhìn nhận sự đa dạng của đạo Tin lành ở Việt Nam để đưa vào quản lý bằng pháp luật; hướng dẫn, giúp các tổ  chức hệ phái Tin lành xây dựng đường hướng họat động tiến bộ, gắn bó với dân tộc và tuân thủ pháp luật; đồng thời đấu tranh chống những hành vi lợi dụng đạo Tin lành để phá hoại sự đoàn kết dân tộc và gây mất ổn định chính trị của đất nước.
Trên cơ sở định hướng nói trên, Chỉ thị số 01 đã nêu một số công tác đối với đạo Tin lành cụ thể như sau:
Một là, tổ chức thực hiện tốt các chương trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân và tạo điều kiện để đồng bào theo đạo Tin lành gắn bó với cộng đồng tham gia ngày càng tốt hơn các hoạt động kinh tế văn hóa, xã hội, góp phần tích cực vào công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc; đồng thời “tăng cường công tác tuyên truyền vận động và tạo điều kiện thuận lợi để các chức sắc, tín đồ đạo Tin lành thực hiện tốt chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo, đưa sinh hoạt tôn giáo của đạo Tin lành đi vào nền nếp bình thường, phù hợp với pháp luật; động viên mọi chức sắc, tín đồ “Sống Phúc âm, phụng sự Thiên Chúa, phục vụ Tổ quốc và Dân tộc”.
 
Hai là, đối với các tổ chức Tin lành đã được công nhận tư cách pháp nhân, như Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc), Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam). “Nhà nước hướng dẫn, giúp đỡ thực hiện các hoạt động tôn giáo theo đúng Hiến chương (Điều lệ) của Giáo hội và tuân thủ các quy định của chính sách pháp luật”. Cụ thể như các vấn đề sinh hoạt tín ngưỡng của tín đồ, hoạt động của chức sắc và của tổ chức giáo hội, việc đào tạo, phong chức, điều chuyển chức sắc, việc in ấn, xuất bản Kinh sách, việc sửa chữa xây dựng nơi thờ tự, việc hoạt động từ thiện xã hội, mối quan hệ với các tổ chức Tin lành quốc tế,…
 
Ba là, đối với các tổ chức Tin lành chưa được công nhận tư cách pháp nhân có mặt ở Việt Nam từ trước năm 1975, đang hoạt động tôn giáo thuần túy, nếu có đủ điều kiện theo quy định của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo thì tiến hành các thủ tục để tổ chức Đại hội đại biểu (Đại hội đồng), thông qua Hiến chương (Điều lệ), bầu cơ quan lãnh đạo giáo hội để được công nhận tư cách pháp nhân về tổ chức. Đối với những hệ phái Tin lành khác, chưa đủ điều kiện công nhận tư cách pháp nhân về tổ chức,“nếu xét thấy thực sự có nhu cầu tín ngưỡng thì tiến hành đăng ký sinh hoạt tôn giáo với chính quyền xã, phường”. Cùng với thời gian, nếu hội đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật sẽ được xem xét công nhận tư cách pháp nhân tổ chức giáo hội.
 
Bốn là, đối với bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số theo đạo Tin lành ở Tây Nguyên tiếp tục xem xét công nhận các chi hội (Hội thánh cơ sở) thuộc Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam) và tạo điều kiện thuận lợi để các chi hội này xây dựng nơi thờ tự, đào tạo và bố trí chức sắc hướng dẫn việc đạo các chi hội đã được công nhận theo quy định của pháp luật.
 
Đối với những nơi chưa đủ điều kiện để được công nhận lập Chi hội, nếu đồng bào theo đạo ở đó có nhu cầu sinh hoạt tôn giáo thuần túy, cam kết chấp hành các quy định của pháp luật, không hoạt động cho bọn phản động Fulro (Đềga) thì “chính quyền xã, phường tạo điều kiện cho đồng bào thực hiện các sinh hoạt tôn giáo bình thường tại gia đình hoặc chấp thuận cho đồng bào đăng ký sinh hoạt đạo tại địa điểm thích hợp trong buôn, làng”.
 
Năm là, đối với số đồng bào dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc mới theo đạo Tin lành cần căn cứ vào nhu cầu tín ngưỡng để có chủ trương thích hợp theo hướng: “Đối với bộ phận đồng bào đã có thời gian theo đạo Tin lành và có nhu cầu tín ngưỡng thực sự, trước mắt hướng dẫn cho đồng bào đăng ký sinh hoạt đạo ở địa điểm thích hợp tại bản, làng. Khi hội đủ các điều kiện thì tạo thuận lợi cho đồng bào sinh hoạt tôn giáo bình thường theo quy định của pháp luật”.
 
Sáu là, kiên quyết đấu tranh với những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực lợi dụng tôn giáo, lợi dụng đạo Tin lành để kích động, lôi kéo đồng bào gây chia rẽ dân tộc, chống phá đất nước. Cần thông báo công khai cho đồng bào biết rõ những hành vi vi phạm pháp luật của những người lợi dung đạo Tin lành; đồng thời “nghiêm cấm và xử lý nghiêm đối với những người ép buộc đồng bào bỏ đạo cũng như việc ép buộc đồng bào theo đạo”.
Bẩy là, để thực hiện những nội dung cụ thể trên, Thủ tướng Chính phủ đặc biệt nhấn mạnh các cấp, các ngành “tổ chức quán triệt sâu sắc và triển khai đầy đủ các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo và chính sách đối với đạo Tin lành” để tạo sự thống nhất và đồng bộ trong việc thực hiện công tác đối với đạo Tin lành.
Ông Nguyễn Thanh Xuân - Phó trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ tiếp Mục sư Nguyễn Hữu Mạc - Hội trưởng Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc) nhân dịp Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc) thăm, chúc Tết Xuân Nhâm Thìn 2012 Ban Tôn giáo Chính phủ.
3. Kết quả thực hiện Chỉ thị 01
Nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa ra đời của Chỉ thị số 01, Ban Tôn giáo Chính phủ phối hợp các Bộ, ngành chức năng Trung ương và địa phương liên quan xây dựng ba kế hoạch công tác lớn nhằm cụ thể hoá và giúp cho việc thực hiện Chỉ thị số 01 được thuận lợi, đạt kết quả tốt (Kế hoạch số 04 (2005) triển khai công tác đối với đạo Tin lành ở khu vực Tây Nguyên; Kế hoạch số 05 (2006) triển khai công tác đối với đạo Tin lành ở khu vực Tây Bắc; Kế hoạch số 08 (2006) triển khai công tác đối với các tổ chức tôn giáo chưa được công nhận).
Điều đặc biệt quan tâm, với ba kế hoạch công tác nói trên, việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 01 được nhiều cấp, nhiều ngành và tất cả địa phương tham gia, thực hiện theo nguyên tắc đúng luật, phù hợp với đặc điểm tình hình của từng khu vực, có triển khai thí điểm và sơ kết đánh giá rút kinh nghiệm theo từng khu vực. Xác định công tác đối với đạo Tin lành vừa mới, vừa khó, nhận thức về đạo Tin lành và công tác đối với đạo Tin lành trong hệ thống chính trị còn khoảng cách nên một trong những công tác đặc biệt quan trọng là quán triệt chủ trương công tác đối với đạo Tin lành trong tình hình mới. Công tác này được gắn với quá trình quán triệt và triển khai Nghị quyết Trung ương 7 (khoá IX) Về công tác tôn giáo, Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo. Với nhiều hình thức phong phú (tổ chức hội nghị tập huấn, tổ chức toạ đàm, trao đổi, tuyên truyền trên phương tiện truyền thông,…). Chỉ tính riêng Ban Tôn giáo Chính phủ đã tổ chức gần 70 hội nghị tập huấn cho 12.500 lượt cán bộ làm công tác tôn giáo cấp tỉnh, huyện và cấp cơ sở. Nhiều địa phương dịch văn bản pháp luật liên quan đến tôn giáo, Chỉ thị số 01 sang chữ dân tộc thiểu số, như Banar, Jrai, Ê-đê, Xêđăng, Mông,… và phổ biến rộng rãi trên phương tiện thông tin đại chúng. Tất cả những việc làm này đã tạo ra sự chuyển biến căn bản và đồng bộ trong hệ thống chính trị và sự đồng thuận trong xã hội tạo thuận lợi cho việc tổ chức thực hiện.
Trong quá trình thực hiện, năm 2007, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng, Ban Tôn giáo Chính phủ đã tổ chức sơ kết ba năm thực hiện Chỉ thị số 01 trong cả nước để đánh giá kết quả thực hiện, bài học kinh nghiệm, uốn nắn những khắc phục khuyết điểm, tồn tại, thiếu sót; đồng thời xác định trọng tâm công tác của giai đoạn tiếp theo.
Sau đây là kết quả cụ thể của từng khu vực sau 5 năm thực hiện Chỉ thị số 01:
+ Đối với Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc) và Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam)
Đến nay, cả hai Hội thánh đều được củng cố, hoạt động theo đường hướng tiến bộ, tuân thủ pháp luật, đồng hành cùng dân tộc, phát huy vai trò của những tổ chức tôn giáo lớn, tạo ảnh hưởng tốt trong cộng đồng các tổ chức, hệ phái Tin lành ở Việt Nam. Trong đó Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc) được củng cố về nhiều mặt, như: tấn phong mục sư, khôi phục lại hoạt động đào tạo, bồi dưỡng chức sắc, xuất bản bản tin Mục vụ,… Không những thế, Hội thánh đã giữ được ảnh hưởng trên khu vực Tây Bắc và phát huy tốt vai trò thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam) cơ bản bình thường hoá hoàn toàn hoạt động ở tất cả các tỉnh phía Nam, tổ chức các lớp Thần học ở các tỉnh, mở rộng Viện Thánh kinh Thần học tại TP Hồ Chí Minh thực hiện đào tạo (đã qua 5 khoá với tổng số gần 500 học viên), xuất bản hàng chục đầu sách mục vụ (trong đó có 30 ngàn quyển Kinh Thánh song ngữ Việt - Banar, Việt - Êđê, Việt – Jrai). Đặc biệt, tháng 6 năm 2011, hai Hội thánh tổ chức lễ kỷ niệm 100 năm ngày đạo Tin lành đến Việt Nam (1911 - 2011) tại TP Đà Nẵng, Hà Nội và TP Hồ Chí Minh đã làm nâng cao vị thế của hai Hội thánh ở trong nước và quốc tế.
+ Đối với các tổ chức, hệ phái Tin lành chưa được công nhận
Đây là khu vực đặt ra nhiều nội dung trong công tác quản lý trước triển khai Chỉ thị số 01. Trên cơ sở đánh giá kỹ thực trạng tình hình, lịch sử hoạt động, đặc điểm tôn giáo và xã hội,… của từng tổ chức Tin lành, từ đó hướng dẫn quy trình đăng ký, công nhận tổ chức tôn giáo theo đúng quy định của pháp luật và trình tự pháp lý. Đến năm 2011, Thủ tướng Chính phủ công nhận, uỷ quyền Ban Tôn giáo Chính phủ công nhận đối với 7 tổ chức Tin lành và cấp đăng ký hoạt động tôn giáo cho 1 tổ chức. Cụ thể: Hội Truyền giáo Cơ đốc Việt Nam (2007), Giáo hội Cơ đốc Phục lâm Việt Nam (2007), Hội thánh Bắp tít Việt Nam - Ân điển Nam phương (2008), Hội thánh Bắp tít Việt nam - Nam phương (2008), Hội thánh Mennonite Việt Nam (2008), Hội thánh Tin lành Trưởng lão Việt Nam (2008), Hội thánh Liên hữu Cơ đốc Việt Nam (2011), và cấp đăng ký cho Hội thánh Phúc âm Ngũ tuần Việt Nam (2009), đưa tổng số các tổ chức Tin lành ở Việt Nam được công nhận và đăng ký hoạt động là 10 tổ chức.
Điều rất đáng trân trọng và khích lệ là cùng với quá trình công nhận tư cách pháp nhân về tổ chức, các tổ chức Tin lành nói trên đều xác định cho mình đường hướng hoạt động tôn giáo và hoạt động xã hội tiến bộ, gắn bó với dân tộc và tuân thủ pháp luật và hội nhập với văn hóa Việt Nam. Cụ thể: Giáo hội Cơ Đốc Phục lâm Việt Nam: Thờ phượng Đức Chúa Trời Ba Ngôi hằng sống, yêu thương đồng loại, Kính Chúa, Yêu Người và phục vụ Tổ quốc”; Hội Truyền giáo Cơ đốc Việt Nam: Rao truyền danh Chúa Jeus Christ ra cho mọi người để gây dựng Hội thánh nhằm thờ phụng Đức Chúa Trời và yêu thương đồng loại”; Hội thánh Bắp tít Việt Nam (Ân điển Nam phương):Tôn thờ Đức Chúa Trời Ba Ngôi, yêu thương mọi người như lời Chúa dạy: Hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức kính trọng Đức Chúa Trời và thương yêu người lân cận như mình. Sống và hành động theo yêu cầu tiến bộ xã hội, gắn bó với dân tộc, đoàn kết để xây dựng đất nước giầu mạnh”; Hội thánh Bắp tít Việt Nam (Nam phương): Kính Chúa yêu người, thờ phụng Đức Chúa Trời, học tập lời Chúa trong Kinh Thánh, truyền bá Phúc âm, liên hữu xây dựng Hội thánh, sống Phúc âm, phụng sự Thiên Chúa, phục vụ Tổ quốc, gắn bó với dân tộc và tuân thủ pháp luật”; Hội thánh Mennonite Việt Nam:Tôn thờ Đức Chúa Trời Ba Ngôi và yêu thương mọi người như lời Chúa dậy trong Kinh Thánh, sống Phúc âm, phụng sự Thiên Chúa, phục vụ Tổ quốc và đồng hành cùng Dân tộc”; Hội thánh Liên hữu Cơ đốc Việt Nam: Trung tín thờ phượng Đúc Chúa Trời Ba Ngôi theo đúng mẫu mực Kinh Thánh và trung thành với Tổ quốc Việt Nam”,…     
+ Đối với đạo Tin lành ở khu vực Tây Nguyên
Chính quyền các tỉnh Tây Nguyên, Bình Phước đã bình thường hoá và đưa vào quản lý bằng pháp luật hầu hết các sinh hoạt tôn giáo của đạo Tin lành. Hiện toàn vùng có gần 450 ngàn người theo đạo của 31 hệ phái, tổ chức Tin lành tư gia, trong đó số đã được sinh hoạt hợp pháp tại 184 chi hội và 1.284 điểm nhóm với 430 ngàn người, chiếm gần 91% (Kon Tum là 93%, Đăk Lăk 78%, Đăk Nông 100%, Lâm Đồng 97%, Gia Lai 93%,…). Ban Đại diện Tin lành ở các tỉnh được củng cố theo Hiến chương (2001) của Tổng Liên hội Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam). Có đến 80 chi hội sau công nhận đã được chính quyền giúp đỡ về thủ tục giao đất, chuyển quyền sử dụng và chuyển đổi mục đích sử dụng đất (trong đó 49 chi hội đã và đang tiến hành xây dựng nhà thờ, 31 chi hội đã có đất đang làm thủ tục xin phép xây dựng). Hơn 150 mục sư, mục sư nhiệm chức và 180 truyền đạo được chính quyền địa phương công nhận; cho phép hàng chục trường hợp là người DTTS đi học Viện thánh kinh Thần học; trên 300 học viên được bồi dưỡng Thần học. Việc làm này nhằm chuẩn bị lực lượng chức sắc có trình độ văn hoá, pháp luật, thần học,… cho các chi hội, điểm nhóm được công nhận; 30.000 quyển Kinh thánh song ngữ (Việt - Banar, Việt - Êđê, Việt- Jrai) đã được phép xuất bản và phát hành, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tôn giáo của tín đồ người dân tộc thiểu số.
 + Đối với khu vực miền núi phía Bắc
Đây là khu vực Tin lành mới phát triển đặt ra nhiều vấn đề từ hai phía đạo Tin lành và các cấp chính quyền. Từ phía đạo Tin lành là việc truyền đạo và theo đạo Tin lành thời kỳ đầu dẫn đến việc xóa bỏ các phong tục tập quán và tín ngưỡng truyền thống gây ra những sung đột về văn hóa, lối sống, ở một số nơi còn gây ra mất đoàn kết trong từng gia đình, dòng họ và buôn làng, ảnh hưởng tới trật tự xã hội. Một phần do chưa hiểu biết về tôn giáo nói chung, chưa hiểu về Tin lành, lại đứng trước những tác động tiêu cực do việc truyền đạo và theo đạo, gây không ít băn khoăn, lo ngại đối với các cấp chính quyền. Sau khi 5 tỉnh làm điểm thành công với 18 điểm nhóm Tin lành, đến năm 2011 đã có 12/13 tỉnh miền núi phía Bắc cấp đăng ký sinh hoạt tôn giáo cho 258/1.249 điểm nhóm Tin lành, trong đó có 242 điểm nhóm thuộc Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc), 16 điểm nhóm thuộc Hội thánh Liên hữu Cơ đốc Việt Nam, đưa sinh hoạt tôn giáo của 45.160 tín đồ vào quản lý, bằng 20,8% số lượng điểm nhóm và bằng 32,04% số lượng người theo đạo Tin lành của toàn khu vực. Sau đăng ký, “về cơ bản các nhóm đạo Tin lành sinh hoạt tôn giáo khá ổn định, chấp hành các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước cũng như các quy định của địa phương. Số “điểm nóng” và các vụ khiếu kiện liên quan đến đạo Tin lành hầu như không còn, không xảy ra mất đoàn kết trong thôn, bản giữa người theo đạo và không theo đạo. Hiện tượng đồng bào Mông di dân tự do giảm hẳn. Các điểm nhóm đều có thái độ cởi mở, hợp tác với chính quyền địa phương trong các hoạt động.     
+ Cùng với kết quả ở bốn khu vực Tin lành như nói trên, thực hiện Chỉ thị số 01 đã tạo điều kiện cho các tổ chức Tin lành tham gia các hoạt động quốc tế. Theo thống kê chưa đầy đủ của Ban Tôn giáo Chính phủ, từ năm 2006 đến năm 2011, trong khoảng 80 đoàn khách quốc tế đến Ban Tôn giáo Chính phủ có trên 50 đoàn đề cập đến tình hình sinh hoạt đạo Tin lành. Trong đó có 22 đoàn là đại diện sứ quán của các nước: Mỹ, Canada, Úc, Niu Zi-lân, các nước thuộc Liên minh châu Âu (EU) như Anh, Pháp, Đức, Thuỵ Điển, Đan Mạch, Na Uy, Ba Lan,… khoảng 15 đoàn thuộc các cơ quan lập pháp, hành pháp, các tổ chức nghiên cứu và các trường đại học; 11 đoàn thuộc các tổ chức, hệ phái Tin lành Mỹ hoặc có trụ sở tại Mỹ. Đoàn Uỷ ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Mỹ và Đoàn Đại sứ lưu động về tự do tôn giáo quốc tế Mỹ John Handford đặc biệt quan tâm đến sinh hoạt đạo Tin lành của người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, Tây Bắc. Riêng đối với Viện Can dự Toàn cầu Mỹ (IGE), thông qua đối tác chính là Hội Việt - Mỹ thuộc Liên hiệp Các tổ chức hữu nghị Việt Nam, đã có 7 chuyến thăm và làm việc tại Việt Nam, tổ chức 3 hội nghị quốc tế về tôn giáo và pháp quyền, 2 cuộc toạ đàm bàn tròn về đạo Tin lành, hỗ trợ một phần kinh phí tổ chức 6 hội nghị tập huấn về công tác đối với đạo Tin lành ở một số tỉnh Tây Bắc.
Một số nhận xét thay kết luận
Chỉ thị số 01 đã đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tôn giáo chính đáng của quần chúng nhân dân có đạo, giúp chuyển biến các hoạt động của đạo Tin lành theo hướng tiến bộ; quần chúng tín đồ, chức sắc phấn khởi tin tưởng vào chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, xoá dần tư tưởng mặc cảm, thành kiến trước đây đối với chính quyền. Quan hệ giữa chính quyền với chức sắc các tổ chức Tin lành được thiết lập, củng cố theo hướng tin cậy, thân thiện và chia sẻ trách nhiệm. Chính điều này đã hỗ trợ tích cực cho công tác vận động quần chúng tín đồ, chức sắc, công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động của đạo Tin lành.
Thực hiện Chỉ thị số 01 đã làm thay đổi nhận thức về đạo Tin lành và công tác đối với đạo Tin lành trong toàn hệ thống chính trị, đưa đến cách tiếp cận toàn diện, khách quan hơn. Đến nay, việc đánh giá về đạo Tin lành không chỉ thấy tác động tiêu cực mà còn ghi nhận những tác động tích cực của đạo Tin lành trong lối sống.
Thực hiện Chỉ thị số 01 đã tạo ra đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo các cấp có tính chuyên nghiệp trong công tác vì đã hiểu biết về đạo Tin lành, đã nâng cao được trình độ, kinh nghiệm quản lý và ứng xử đối với đạo Tin lành. Chỉ thị số 01/2005/CT-TTg còn giúp chính quyền cơ sở tăng khả năng QLNN về tôn giáo khi phân cấp cho chính quyền xã, phường, thị trấn thực hiện quản lý nhà nước đối với đạo Tin lành.
Thực hiện Chỉ thị số 01 đã làm ổn định tình hình đạo Tin lành ở các khu vực, góp phần ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội. Đồng thời, đạo Tin lành cũng góp phần tạo nên nếp sống tiến bộ theo hướng tiết kiệm, tuân thủ pháp luật, loại trừ những tập tục lạc hậu, tệ nạn xã hội,…
Thực hiện Chỉ thị số 01 đã góp phần quan trọng trong công tác đối ngoại và đấu tranh ngoại giao. Tình hình đạo Tin lành chuyển biến như nói trên đã làm thay đổi quan điểm của nhiều tổ chức, cá nhân nước ngoài, từ chỗ “quan ngại” đến sự chia sẻ, đồng thuận và có những đánh giá tích cực. Công tác đối với đạo Tin lành trong thời gian qua đã góp phần thúc đẩy quá trình Việt Nam gia nhập WTO, việc Chính phủ Mỹ ký quy chế Quan hệ Thương mại bình thường vĩnh viễn với Việt Nam (PNTR), việc Việt Nam trở thành thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc,... và nhất là đưa Việt Nam ra khỏi danh sách các quốc gia đáng quan tâm về tự do tôn giáo (CPC).
Tuy nhiên quá trình triển khai Chỉ thị số 01 vẫn còn những tồn tại cần khắc phục, như: Chưa quán triệt và thống nhất cao về chủ trương công tác đối với đạo Tin lành, nhất là ở cấp cơ sở; việc triển khai Chỉ thị số 01 ở một số địa phương còn chậm, công tác quản lý sau đăng ký điểm nhóm chưa đi vào nền nếp, còn lúng túng,… một số hoạt động của đạo Tin lành vẫn còn vướng mắc pháp luật, nhất là những vấn đề tồn tại của lịch sử, một số điểm nhóm của một số hệ phái Tin lành không đăng ký,  hoạt động không tuân thủ pháp luật,…
 Có thể nói, mặc dù vẫn còn những mặt tồn tại, còn nhiều công việc phải làm ở phía trước, nhưng kết quả của Chỉ thị số 01 là rất lớn, rất tích cực. Điều đó khẳng định việc ban hành, thực hiện Chỉ thị số 01 của Thủ tướng là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với tình hình thực tiễn, tạo bước   ngoặt trong công tác đối với đạo Tin lành nói riêng và công tác tôn giáo nói chung./.
 
Nguyễn Thanh Cao
Tài liệu tham khảo:
- Báo cáo Tổng kết 5 năm thực hiện Chỉ thị số 01 của Ban Tôn giáo Chính phủ, Hà Nội 2011;
- Chỉ thị số 01/CT-Ttg, 5/2/2005 của Thủ tướng Chính phủ Về một số công tác đối với đạo Tin lành;
- Một số Tôn giáo ở Việt Nam, Nguyễn Thanh Xuân, NXB tôn giáo, Hà Nội, 2009.
Đạo Tin lành sau 05 năm thực hiện Chỉ thị số 01 của Thủ tướng Chính phủTrước tình hình trên, ngày 05-02-2005, Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị số 01/CT-TTg Về một số công tác đối với đạo Tin lành (gọi tắt là Chỉ thị số 01) . Sau hơn 5 năm thực hiện Chỉ thị số 01, công tác đối với đạo Tin lành đã đạt được những kết quả rất quan
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
Công tác tôn giáo ở tỉnh Bắc Kạn
Kiên Giang: Công tác tôn giáo góp phần ổn định kinh tế, chính trị - xã hội
Hậu Giang: Kết quả đạt được sau 3 năm thực hiện Chỉ thị 1940/CT-TTg ngày 31/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ về nhà đất liên quan đến tôn giáo
Giải pháp nâng cao hiệu quả phòng, chống lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh Thái Bình
Chăm lo công tác tôn giáo, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc của tỉnh Hòa Bình
Bắc Giang làm tốt công tác phối hợp thực hiện chủ trương, chính sách tôn giáo
Vận động nông dân thực hiện chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước
Công tác tôn giáo ở vùng đồng bào dân tộc Chăm Ninh Thuận hiện nay
Tăng cường quốc phòng, an ninh làm thất bại hoạt động lợi dụng tôn giáo, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam trong tình hình mới
Thái Bình thực hiện tốt chính sách tín ngưỡng, tôn giáo góp phần giữ vững ổn định chính trị, tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới
Video
Giao lưu văn nghệ nhân kỷ niệm 63 năm Ngày thành lập Ban Tôn giáo Chính phủ Ngày truyền thống ngành Quản lý nhà nước về tôn giáo(2/8/1955-2/8/2018)
Hành trình về nguồn đong đầy ý nghĩa
Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ trả lời Truyền hình VTC về “Hội thánh của Đức Chúa Trời Mẹ”
Hình ảnh
Một số hình ảnh ngôi đền cổ đại khắc từ một khối đá duy nhất
Tái hiện Lễ mừng lúa mới dân tộc Xơ Đăng tỉnh Kon Tum
Ngôi chùa hơn nửa thế kỷ “không nhang khói”...
Audio
Phỏng vấn Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Cần Thơ về công tác tuyên truyền, phổ biến Luật tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định 162/2017/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo tại địa phương
Ủy ban Mặt trận Lào Xây dựng Đất nước vận dụng những kinh nghiệm quản lý nhà nước về tôn giáo của Việt Nam
Một số điểm mới của Luật tín ngưỡng, tôn giáo


BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Đường Dương Đình Nghệ, P. Yên Hòa,Q. Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 043 8 248 673 . Fax: 08041313
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn



Người chịu trách nhiệm chính: Ông Dương Ngọc Tấn 
Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ
Email:  ttttbantongiao@chinhphu.vn