Tìm kiếm  Tìm kiếm nâng cao
Ngày 22/11/2019 09:38 PM
Ấn phẩm sách
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 10/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 9/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 8/2019
Giới thiệu Tạp chí Công tác tôn giáo Số 7/2019
Thăm dò ý kiến
Bạn theo đạo nào ?















Chọn    Xem KQ
60 năm Ngành quản lý nhà nước về tôn giáo ở Việt Nam 1955 - 2015

Thực hiện quản lý nhà nước nhằm  đáp ứng nhu cầu  tôn giáo của đồng bào có đạo, trong 60 năm qua cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo ở nước ta đã nhiều lần thay đổi tên gọi và chức năng theo chiều hướng tăng dần về nội dung nhiệm vụ, cụ thể ở cấp trung ương:

(1) Năm 1955, thành lập Ban Tôn giáo trung ương, đơn vị trong Ban Nội chính của Chính phủ và trực thuộc Thủ tướng phủ, cơ quan tương đương cấp vụ. Làm đầu mối liên hệ với các tôn giáo, chủ yếu thực hiện chức năng vận động

(2) Năm 1964, Ban Tôn giáo trung ương đổi tên thành Ban Tôn giáo Phủ Thủ tướng, trực thuộc Thủ tướng phủ, sau lần điều chỉnh thứ nhất cơ quan tương đương một vụ với hai phòng chuyên môn. Làm đầu mối liên hệ với các cơ quan, thực hiện chức năng quản lý, nhiệm vụ chính vẫn là vận động các tôn giáo.

(3) Năm 1985, thành lập Ban Tôn giáo của Chính phủ, cơ quan thuộc Chính phủ, có chức năng giúp việc cho Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về công tác tôn giáo.

(4) Năm 1993, Ban Tôn giáo của Chính phủ, có 06 đơn vị trực thuộc là cấp vụ và tương đương. Ban Tôn giáo của Chính phủ là cơ quan thuộc Chính phủ, có chức năng quản lý Nhà nước về hoạt động tôn giáo trong phạm vi cả nước; là đầu mối phối hợp giữa các ngành về công tác tôn giáo, và liên hệ với các tổ chức tôn giáo.

(5) Năm 1998, Ban Tôn giáo của Chính phủ, có 09 đơn vị trực thuộc là cấp vụ và tương đương. Tách một số vụ chuyên môn. Tăng thêm công tác bồi dưỡng nghiệp vụ làm quản lý Nhà nước về tôn giáo (QLNN về TG).

(6) Năm 2003, đổi tên thành Ban Tôn giáo Chính phủ, là cơ quan thuộc Chính phủ, thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nước về lĩnh vực tôn giáo trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc lĩnh vực tôn giáo theo quy định của pháp luật. Với 17 nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Ban gồm 13 đơn vị trực thuộc.

(7) Năm 2009 Ban Tôn giáo Chính phủ, là cơ quan trực thuộc Bộ Nội vụ, có chức năng tham mưu giúp Bộ trưởng Bộ Nội vụ quản lý nhà nước về lĩnh vực tôn giáo trong phạm vi cả nước và thực hiện các dịch vụ công thuộc lĩnh vực tôn giáo theo quy định của pháp luật. Với 19 nhiệm vụ được quy định cơ cấu tổ chức gồm 14 đơn vị trực thuộc: trong đó 10 đơn vị hành chính và 04 đơn vị sự nghiệp.

(8) Năm 2015, Ban Tôn giáo Chính Phủ là cơ quan trực thuộc Bộ Nội vụ có chức năng tham mưu giúp Bộ trưởng Bộ Nội vụ quản lý nhà nước về lĩnh vực tôn giáo trong phạm vi cả nước và thực hiện các dịch vụ công thuộc lĩnh vực tôn giáo theo quy định của pháp luật. Ban Tôn giáo Chính phủ là cơ quan tương đương Tổng cục, với 19 nhiệm vụ được quy định. Cơ cấu tổ chức gồm 15 đơn vị trực thuộc: Trong đó 10 đơn vị hành chính và 05 đơn vị sự nghiệp.

Quản lý nhà nước  về tôn giáo ở Việt Nam có nhiều thay đổi bởi nước ta  nhiều tôn giáo, các tôn giáo có nguồn gốc, lịch sử, đặc trưng và quá trình phát triển khác nhau. Trải qua các giai đoạn của lịch sử, do tác động và ảnh hưởng từ đời sống xã hội, hoạt động tôn giáo đã bộc lộ theo nhiều chiều hướng. Cùng với hoạt động thuần túy tôn giáo, còn có tôn giáo bị chính trị lợi dụng đã từng nảy sinh không ít phức tạp, làm ảnh hưởng tiêu cực tới đời sống xã hội, đặt quản lý hoạt động của tôn giáo trước hàng loạt vấn đề cần giải quyết. Đó là việc đáp ứng nhu cầu tự do tôn giáo của người có đạo thực hiện hoạt động tôn giáo bình thường với việc ngăn chặn  tôn giáo bị chính trị phản động lợi dụng, việc giữ gìn bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa, giá trị đạo đức của dân tộc trong các truyền thống tôn giáo với trào lưu của các tôn giáo mới mang theo văn hóa và đạo đức phi truyền thống được sự hậu thuẫn khá tinh vi của các lực lượng lợi dụng dân chủ và cơ chế thị trường....Giải quyết được những vấn đề ấy trong tôn giáo, bên cạnh công tác vận động quần chúng tín đồ, chức sắc các tôn giáo thì công tác quản lý nhà nước về tôn giáo ở Việt Nam có vai trò đặc biệt quan trọng.

Từ khi thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho tới nay, QLNN về TG ở Việt Nam đã có lịch sử 60 năm. Trong từng giai đoạn  cách mạng, QLNN về TG thực hiện các nội dung của nhiệm vụ chính trị có khác nhau, song luôn đóng góp tích cực qua hướng dẫn chức sắc tín đồ các tôn giáo thực hiện đúng pháp luật, đoàn kết cùng toàn dân góp phần vào thắng lợi của công cuộc bảo vệ và phát triển đất nước. Tìm hiểu QLNN về tôn giáo ở Việt Nam trong 60 năm qua chúng ta nhận thấy sự trưởng thành và đóng góp trong tham mưu hoạch định chủ trương và pháp luật liên quan tới tôn giáo, qua ba giai đoạn:

1.Giai đoạn hình thành cơ quan QLNN về TG ở Việt Nam.

Năm 1955, Thủ tướng Chính phủ, ban hành Nghị định số 566/TTg (02/8/1955) thành lập Ban Tôn giáo Trung ương, cơ quan chuyên trách QLNN về TG là một đơn vị trong Ban Nội chính của Chính phủ và trực thuộc Thủ tướng phủ, theo quy định: Cấp trung ương cơ cấu tổ chức gồm 01 Trưởng ban, 2 tới 4 ủy viên. Cấp khu có Ban Tôn giáo trực thuộc Ủy ban hành chính khu. Cấp tỉnh nơi nào có tôn giáo thành lập Ban Tôn giáo trực thuộc Ủy ban hành chính cấp tỉnh. Cấp huyện nơi nào có tôn giáo thành lập Ban Tôn giáo cấp huyện trực thuộc Ủy ban hành chính huyện. Từ cấp khu tới cấp huyện, do một ủy viên Ủy ban phụ trách [12]. Với chức năng giúp Thủ tướng phủ và chính quyền các cấp triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách về tôn giáo. Làm đầu mối liên hệ với các ngành chức năng, vận động đồng bào tôn giáo đấu tranh chống cưỡng ép tín đồ tôn giáo ở miền Bắc di cư vào miền Nam. Vận động chức sắc tín đồ tôn giáo tham gia kiến thiết đất nước sau chiến tranh ở miền Bắc, đấu tranh với đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn đòi thi hành Hiệp định Giơ ne vơ ở miền Nam giành độc lập, thống nhất đất nước.

Trong giai đoạn này các tổ chức tôn giáo được thành lập: Hội thánh Tin lành miền Bắc (1955) và Hội Phật giáo thống nhất Việt Nam (1958). Văn bản pháp quy về tôn giáo có Sắc lệnh số 234/SL ( 14/6/1955) Về vấn đề tôn giáo, do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký, với tinh thần: Chính phủ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và tự do thờ cúng của nhân dân. Không ai được xâm phạm đến quyền tự do ấy. Mọi người Việt Nam đều có quyền tự do theo một tôn giáo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các nhà tu hành được tự do giảng đạo tại các cơ quan tôn giáo (như nhà thờ, chùa, thánh thất, trường giáo lý, v.v...). Khi truyền bá tôn giáo, các nhà tu hành có nhiệm vụ giáo dục cho các tín đồ lòng yêu nước, nghĩa vụ của người công dân, ý thức tôn trọng chính quyền nhân dân và pháp luật của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.

Năm 1964, Phủ Thủ tướng ban hành Thông tư số 60/TTg (11/6/1964) đổi tên Ban Tôn giáo trung ương thành Ban Tôn giáo Phủ Thủ tướng [13]. Giao nhiệm vụ chuyên môn, tập trung hơn vào QLNN về TG nhằm ổn định hoạt động tôn giáo và thực hiện ngăn chặn lợi dụng tôn giáo chống phá sự nghiệp cách mạng của Việt Nam. Về tổ chức Ban Tôn giáo Phủ Thủ tướng, cơ quan QLNN về TG ở cấp trung ương tương đương cấp vụ, với hai phòng chuyên môn[5]. Từ năm 1955 đến 1975, là giai đoạn hình thành đối với cơ quan QLNN về TG ở Việt Nam.

 2. Giai đoạn trưởng thành của ngành Quản lý nhà nước về tôn giáo ở Việt Nam từ năm 1975 đến 1990.

Nhiệm vụ chính trị của cả nước trong thời gian 15 năm này là thực hiện Nghị quyết của ba kỳ Đại hội Đảng toàn quốc nhằm: tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Xây dựng CNXH trên phạm vi cả nước và sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa.

 Năm 1977, sau khi thống nhất đất nước, Chính phủ ban hành Nghị quyết 297/NQ – CP ( 11/11/1977) Về hoạt động tôn giáo. Đây là văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên đối với QLNN về TG trong điều kiện đất nước thống nhất. Nghị quyết nêu: “Các cấp chính quyền phải bảo đảm tự do tôn giáo cho đồng bào có đạo, quan tâm tới việc tuyên truyền, giáo dục chức sắc tín đồ tôn giáo tích cực tham gia xây dựng đất nước sau chiến tranh, cảnh giác đấu tranh với việc kẻ địch lợi dụng tôn giáo chống phá thành quả cách mạng” [7] Tinh thần Nghị quyết đã được các tôn giáo ủng hộ, năm 1980, Hội đồng Giám mục Việt Nam được thành lập, xác định đường hướng hoạt động là “Sống Phúc âm giữa lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc đồng bào”, [10]. Năm 1981 thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam, hoạt động theo đường hướng: “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội”. [9]

Nghị quyết của Đảng nhấn mạnh “Trong tình hình hiện nay, nhiệm vụ chung đối với các tôn giáo là hết sức quan trọng: vận động quần chúng trong các tôn giáo tăng cường đoàn kết cùng toàn dân nỗ lực xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc Việt Nam XHCN.

Sự chuyển đổi nhận thức của Đảng về tôn giáo, đã tạo điều kiện cho QLNN về TG, trong giai đoạn này có 04 tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận: trước năm 1975 có Hội thánh Tin lành miền Bắc (1955) Hội Phật giáo thống nhất Việt Nam (1958), sau năm 1975 có Hội đồng Giám mục Việt Nam (1980), Giáo hội Phật giáo Việt Nam(1981). Nhiều nội dung QLNN về TG đã được thực hiện tốt như: Giúp các tổ chức tôn giáo thực hiện Đại hội đảm bảo đúng quy định của Pháp luật, thực hiện tự do tôn giáo; cho phép thành lập trường đào tạo tôn giáo, Phật giáo có trường cao cấp Phật học, sau đổi thành Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội, thành lập năm 1982, thực hiện đào tạo 04 năm một khóa. Công giáo thành lập Đại chủng viện Thánh Quý, Cần Thơ năm 1988. Quản lý phong chức, bổ nhiệm, hoạt động quốc tế của các tôn giáo, ..

3. Giai đoạn phát triển đối với Quản lý nhà nước về tôn giáo ở Việt Nam (từ năm 1990 đến nay)

Sau năm 1990, cả nước tiến mạnh vào công cuộc đổi mới, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội, theo con đường mà Hồ Chủ tịch, Đảng và nhân dân đã lựa chọn. Công tác QLNN về TG trong thời kỳ này có bước chuyển khá quan trọng.

Bước tiến quan trọng về nhận thức của Đảng đối với tôn giáo được thể hiện ở quan điểm và xác định chính sách đối với tôn giáo, tinh thần Nghị quyết đã nêu:

- Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới. Chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân, thực hiện đoàn kết lương - giáo, đoàn kết toàn dân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cần khắc phục nhận thức thiển cận đối với tôn giáo và thái độ hẹp hòi thành kiến, phân biệt đối xử với đồng bào có đạo.

- Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng. Đồng bào có đạo hay không theo đạo đều là công dân Việt Nam, có quyền và nghĩa vụ bình đẳng như nhau trước pháp luật….

 - Làm tốt công tác tôn giáo là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo. Công tác tôn giáo bao gồm nhiều mặt: vận động tín đồ, chức sắc; tổ chức sự quản lý nhà nước đối với hoạt động của giáo hội; thực hiện các hoạt động đối ngoại về tôn giáo, kết hợp nghiên cứu lý luận và chỉ đạo hoạt động thực tiễn[2].

Năm 1998, Bộ Chính trị có Thông báo số 145-TB/TW (15/6/1998) Kết luận của Bộ Chính trị về tăng cường lãnh đạo công tác tôn giáo trong tình hình mới. Tán thành nội dung tổng kết hơn 7 năm thực hiện Nghị quyết 24 - NQ/TW (1990), khẳng định những thành tựu trong công tác tôn giáo đồng thời chỉ ra hạn chế cần khắc phục.

Năm 1998, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) ban hành Chỉ thị số 37/CT - TW (1998), Về công tác tôn giáo trong tình hình mới. Chỉ thị xác định 6 nguyên tắc và 7 nhiệm vụ của công tác tôn giáo. Trong nguyên tắc thứ tư, đã bổ sung vào nhận thức và khẳng định thêm giá trị của tôn giáo: “Những hoạt động tôn giáo ích nước lợi dân, phù hợp với nguyện vọng và lợi ích chính đáng, hợp pháp của tín đồ được bảo đảm. Những giái trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo được tôn trọng và khuyến khích phát huy”[3].

Năm 2003, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) ban hành Nghị quyết số 25/NQ-TW (12/ 3/ 2003) Về công tác tôn giáo. Đây là Nghị quyết thể hiện nhận thức tiến bộ nhất về tôn giáo của Đảng từ trước tới thời điểm này, quan điểm trong Nghị quyết đã thể hiện:

Tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng CNXH ở nước ta. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc” [4].

Trong thời gian từ 1990 đến 2003 có 13 văn kiện của Đảng được ban hành liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo cùng nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác có nội dung điều chỉnh hoạt động tôn giáo như: Bộ luật Dân sự; Bộ luật Tố tụng Hình sự; Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng Dân sự; Luật Tổ chức Quốc hội; Luật Tổ chức Chính phủ; Luật Tổ chức Hội đồng nhân; dân và Ủy ban nhân dân 2003; Luật Xây dựng... được ban hành, các văn bản pháp quy liên quan trực tiếp tới tôn giáo như:

Năm 1991, Chính phủ ban hành Nghị định 69/HĐBT (21/3/1991) của Hội đồng Bộ trưởng Quy định về các hoạt động tôn giáo.

Năm 1992, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thông qua, điều 70 ghi nhận: “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng để làm trái pháp luật và chính sách của nhà nước”.

Năm 1999, Chính phủ ban hành Nghị định số 26/1999/NĐ – CP (19/4/1999) Về các hoạt động tôn giáo, gồm 3 chương, 29 điều quy định:

“Mọi công dân có quyền tự do theo hoặc không theo một tôn giáo nào, từ bỏ hoặc thay đổi tôn giáo. Tín đồ có quyền thực hiện các hoạt động tôn giáo không trái với chủ trương, chính sách và pháp luật của Nhà nước, tiến hành các nghi thức thờ cúng, cầu nguyện tại gia đình và tham gia các hoạt động tôn giáo, học tập giáo lý, đạo đức, phục vụ lễ nghi tôn giáo tại cơ sở thờ tự. Tín đồ không được lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm trái pháp luật, không được hoạt động mê tín dị đoan”.

Năm 2003, trên tinh thần Luật Tổ chức Chính phủ, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 91/2003/NĐ-CP (13/08/2003) Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức bộ máy của Ban Tôn giáo Chính phủ [8].

Năm 2004, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua Pháp lệnh số 21/2004/PL-UBTVQH11 (18/6/2004) Về tín ngưỡng, tôn giáo, được Chủ tịch Nước ký lệnh công bố ngày 29/6/2004. Đây là văn bản pháp quy, quy định riêng về hoạt động tôn giáo cao nhất (dưới luật) từ trước tới nay. Pháp lệnh này gồm 6 chương, 41 điều, quy định khá chi tiết về hoạt động tôn giáo. Ưu điểm nổi trội của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo là văn bản pháp quy quy đinh các hoạt đông tôn giáo thông thoáng, cởi mở nhất từ trước tới thời điểm đó [15].

Năm 2005, Chính phủ ban hành Nghị định số 22/NĐ-CP (01/3/2005) Hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, nhằm cụ thể hóa những điều Pháp lệnh đặt ra.

Năm 2005, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 01/2005/CT – TTG (04/2/2005) Về một số công tác đối với đạo Tin lành.

Năm 2005, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 445/2005/QĐ - TTG (27/5/2005) lấy ngày 02 tháng 08 hàng năm là ngày truyền thống ngành QLNN về TG.

Năm 2008, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 1940/2008 CT – TTG (31/12/2008) Về nhà, đất liên quan đến tôn giáo. Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, Ngành, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tập trung chấn chỉnh việc quản lý, sử dụng nhà, đất liên quan đến tôn giáo; rà soát quy hoạch tổng thể về quản lý, sử dụng đất và chỉ đạo giải quyết kịp thời những vấn đề nhà, đất liên quan đến tôn giáo, bảo đảm hài hoà giữa lợi ích tôn giáo với lợi ích dân tộc [14].

Năm 2009, thực hiện Nghị định số 08/NĐ-CP (08/08/2007) Về việc chuyển Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương, Ban Tôn giáo Chính phủ và Ban Cơ yếu Chính phủ vào Bộ Nội vụ. Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 134/QĐ – TTG (03/11/2009) Về việc sáp nhập Ban Tôn giáo Chính phủ vào Bộ Nội vụ, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ban Tôn giáo Chính phủ trực thuộc Bộ Nội vụ.

Năm 2012, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định 92/2012/NĐ-CP (08/11/2012) bổ sung Nghị định số 22/2005/NĐ-CP (2005) sau 7 năm thực hiện.

Năm 2013, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua bản Hiến pháp sửa đổi Hiến pháp năm 1992 (28/11/2013). Hiến pháp năm 2013 thể hiện sự tiến bộ về tự do tôn giáo, điều 24 Hiến pháp 2013 ghi rõ:

1. Mọi người có quyền bình đẳng theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật.

2. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tôn giáo.

3. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật [11].

Năm 2014, Chính phủ có Nghị định số 58/2014/NĐ-CP (16/6/2014) quy định chức năng, nhiệm vụ quyền hạn cơ cấu tổ chức của Bộ Nội vụ là cơ quan thuộc Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về các ngành, lĩnh vực, trong đó tôn giáo là một lĩnh vực.

Năm 2015, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 06/2015/QĐ-TTG (12/2/2015) quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ban Tôn giáo Chính phủ thuộc Bộ Nội vụ.

Như vậy cơ quan thực hiện chức năng QLNN về TG từ khi thành lập năm 1955 cho đến nay đã được củng cố nhiều lần theo chiều hướng tăng đầu các cơ quan chuyên môn, tăng nội dung nhiệm vụ, cụ thể ở cấp trung ương:

Ở cấp Trung ương bộ máy thực hiện QLNN về TG được tăng cường để thực hiện nội dung quản lý nhà nước về tôn giáo với sự phát triển của các tôn giáo cụ thể. Trước khi có Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, có 6 tôn giáo và 16 tổ chức tôn giáo, sau khi thực hiện Pháp lệnh từ năm 2004 đến nay đã công nhận thêm 7 tôn giáo với 22 tổ chức và 01 pháp môn. Hiện tại cả nước có 38 tổ chức tôn giáo thuộc 14 tôn giáo đã được Nhà nước công nhận và cấp đăng ký hoạt động. Đã cấp đăng ký hoạt động cho 39 dòng tu, 04 hội đoàn Công giáo, hơn 2000 xứ họ đạo Công giáo, Chi hội thánh Tin lành, chùa Phật giáo, họ đạo Cao Đài… hơn 1.500 điểm nhóm Tin lành được đăng ký sinh hoạt. 10.818 con dấu đã cấp cho các tổ chức tôn giáo .

Tóm lại: Trong 60 năm (1955- 2015), cơ quan QLNN về TG đã nhiều lần đổi tên và thay đổi cơ cấu, chức năng, nhiệm vụ, mỗi lần thay đổi là một lần phát triển về bộ máy cơ quan chuyên trách và tăng cường chức năng QLNN về TG. Song mặt trái của sự thay đổi ấy là làm cho hệ thống QLNN về TG xáo trộn, thiếu ổn định, nhất là ở các địa phương. QLNN về TG ở Việt Nam từ năm 1955 đến nay đã thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao, từng bước giải quyết đáp ứng nhu cầu tôn giáo của nhân dân. Tạo điều kiện để hoạt động của các tôn giáo được cải thiện theo hướng cởi mở thông thoáng, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ngày càng được đảm bảo. Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận nhiều hơn, hoạt động tôn giáo phong phú, đa dạng hơn. Sự quan tâm đúng mức đã khuyến khích, động viên các tôn giáo tích cực hơn trong các phong trào thi đua yêu nước. Thành tựu đó đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao. Những thành tựu đạt được trong QLNN về TG đã góp phần tích cực vào ổn định chính trị, phát triển xã hội. Tuy nhiên trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay, hoạt động của các tôn giáo vẫn tiềm ẩn nhiều phức tạp.

QLNN về TG trong thời gian qua có nhiều thành tựu song còn bộc lộ không ít những hạn chế. Trong đó, cơ chế, chính sách và năng lực cán bộ chuyên môn là hai lĩnh vực mấu chốt của mọi vấn đề, trực tiếp quyết định toàn bộ tính hiệu quả và chất lượng của QLNN về TG. Con người, từ phương diện chủ thể quản lý, trước hết là con người hoạch định chính sách, pháp luật tôn giáo, và là con người thực thi chính sách, pháp luật phải ngang tầm với đòi hỏi của thực tiễn tôn giáo ở Việt Nam và quốc tế, điều đó chưa đạt được như mong muốn. Đa số cán bộ làm công tác tôn giáo chưa chuyên nghiệp, QLNN về TG chưa ngang tầm với đòi hỏi của thực tiễn.

Từ phương diện đối tượng quản lý, con người, là tín đồ, chức sắc, nhà tu hành của các tôn giáo, việc nâng cao nhận thức về pháp luật, ý thức trách nhiệm xây dựng xã hội mới, phát huy vai trò, trách nhiệm trong hoạt động tôn giáo góp phần ổn định chính trị, xây dựng đất nước Việt Nam giàu đẹp là vấn đề đang cần nhiều sự quan tâm qua nhận thức về tôn giáo, qua xây dựng chính sách, pháp luật, qua tổ chức hoạt động thực tiễn…

Quản lý nhà nước về tôn giáo trong giai đoạn hiện nay đang đứng trước nhiều điều kiện thuận lợi nhưng cũng không ít thử thách. Thuận lợi bởi có sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, sự chỉ đạo trực tiếp của Chính phủ, sự quan tâm của các cơ quan hữu quan và công tác tôn giáo là trách nhiện của cả hệ thống chính trị. Song thử thách rất lớn đối với QLNN về TG trong giai đoạn tiếp theo là tính phức tạp của tôn giáo không ngừng tăng dưới sự tác động của trào lưu dân chủ ngày càng mở rộng và cơ chế thị trường ngày càng có ảnh hưởng nhiều với sự hội nhập bởi toàn cầu hóa. Trước nhu cầu phát triển, các tôn giáo luôn tìm cách điều chỉnh để thích nghi, phù hợp với xu thế xã hội với sự mềm dẻo hơn, lấy ôn hòa làm xu hướng chủ đạo, tập trung củng cố tổ chức, tăng cường phát triển tín đồ, củng cố đức tin, xây dựng cơ sở vật chất, tổ chức nhiều hoạt động từ thiện xã hội. Tăng cường đào tạo, phong chức, bổ nhiệm những giáo sĩ có trình độ, đối thoại và ứng xử linh hoạt trong mối quan hệ với chính quyền. Các hoạt động bất hợp pháp giảm dần nhưng sẽ đẩy mạnh việc công khai đòi lại cơ sở vật chất có nguồn gốc tôn giáo. Bên cạnh đó có sự hậu thuẫn tài chính từ bên ngoài sự móc nối với các đối tượng cơ hội chính trị của một số giáo sĩ cực đoan có thể phức tạp hơn.

Các thế lực xấu luôn lợi dụng nhân quyền, dân chủ, tôn giáo để thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” chống phá nhà nước Việt Nam là mục đích các nước đối lập với Chủ nghĩa xã hội xúi giục những nhân vật tôn giáo cực đoan chống lại Nhà nước ta, vu cáo tự do tôn giáo, kích động, xúi dục tôn giáo, gây mất đoàn kết trong các tôn giáo là công cụ hiểu hiệu để chống phá tiến trình xây dựng CNXH ở Việt Nam. Trước bối cảnh ấy, QLNN về TG vẫn đang là cuộc đấu tranh chính trị và tư tưởng, diễn ra quyết liệt và lâu dài, liên quan tới nhiều mặt của đời sống xã hội. Để thực hiện tốt QLNN về TG cần thực hiện đồng bộ các chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước về tôn giáo nhằm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và các hoạt động tôn giáo bình thường của quần chúng nhân dân, góp phần xây dựng khối đoàn kết toàn dân, nhằm ổn định chính trị, phát huy sức mạnh đoàn kết tôn giáo cùng đồng bào cả nước xây dựng thành công Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

TS. Bùi Hữu Dược

Vụ trưởng vụ Phật giáo- Ban Tôn giáo Chính phủ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Ban Tôn giáo Chính phủ (2012) Thống kê số liệu tôn giáo, Lưu hành nội bộ.

2. Chính phủ (1977) Nghị quyết 297/NQ - CP, ngày11/11/1977  Về hoạt động tôn giáo.

3. Chính phủ (2003) Nghị định số 91/2003/NĐ - CP ngày 13/8/2013 về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức bộ máy của Ban Tôn giáo Chính phủ.

4. Giáo hội Phật giáo Việt Nam (1981) Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam 1981.

5. Hội đồng Giám mục Việt Nam (1980) Thư chung 1980.

6. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013) Hiến pháp sửa đổi Hiến pháp năm 1992.

7. Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1955) Nghị định số 566/TTg ngày 02/8/1955 về việc thành lập Ban Tôn giáo Trung ương.

8. Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1964) Thông tư số 60/TTg ngày 11/6/1964 đổi tên Ban Tôn giáo Trung ương thành Ban Tôn giáo Phủ Thủ tướng.

9. Thủ tướng Chính phủ (2008) Chỉ thị số 1940/2008 CT - TTG, ngày 31/12/2008, Về nhà, đất liên quan đến tôn giáo.

10. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2004) Pháp lệnh về tín ngưỡng, tôn giáo, Nxb Tôn giáo.

60 năm Ngành quản lý nhà nước về tôn giáo ở Việt Nam 1955 - 2015(1) Năm 1955, thành lập Ban Tôn giáo trung ương, đơn vị trong Ban Nội chính của Chính phủ và trực thuộc Thủ tướng phủ, cơ quan tương đương cấp vụ. Làm đầu mối liên hệ với các tôn giáo, chủ yếu thực hiện chức năng vận động (2) Năm 1964, Ban Tôn giáo trung
Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz        Quay lại   Gửi đi   In trang này   Về đầu trang
Nhà khoa học ngành quản lý nhà nước về tôn giáo
Giới thiệu về Ban Tôn giáo Chính phủ và Ngành quản lý Nhà nước về tôn giáo
Truyền thống Ngành quản lý Nhà nước về tôn giáo tỉnh Quảng Bình, hơn 20 năm nhìn lại
Video
Phát huy vai trò của các tôn giáo trong việc bảo vệ môi trường ở Việt Nam
Toàn văn bài phát biểu của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với chức sắc, chức việc tôn giáo có đóng góp tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Hình ảnh
Hình ảnh khai mạc Đại hội Giới trẻ Giáo tỉnh Hà Nội lần thứ XVII
Hàng chục ngàn người tham dự Lễ hội dừa Bến Tre 2019
Tái hiện Nghi lễ “Lẩu Then” của đồng bào dân tộc Tày
Audio
Ông Bùi Thanh Hà, Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ trao đổi về vấn đề dâng sao giải hạn đang diễn ra tại một số chùa
Phỏng vấn Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Cần Thơ về công tác tuyên truyền, phổ biến Luật tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định 162/2017/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo tại địa phương


BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

Đường Dương Đình Nghệ, P. Yên Hòa,Q. Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 0243 8 248 673 . Fax: 08041313
Email: bantongiaocp@chinhphu.vn

Đơn vị quản lý: Trung tâm Thông tin,
Ban Tôn giáo Chính phủ

Email:ttttbantongiao@chinhphu.vn